🐇 Các Phương Pháp Phê Bình Văn Học

Các thuật ngữ chính (Key terms) - Tính trớ trêu (Irony): độ chênh giữa điều được nói và điều được ám chỉ, giữa nghĩa đen và nghĩa bóng. - Các biện pháp tu từ: hình ảnh (image), ẩn dụ (metaphor), biểu tượng (symbol), nhịp điệu (rhythm) …. - Lầm lẫn về ý định Các phương pháp và kĩ thuật dạy học môn Ngữ Văn. 1. Phương pháp vấn đáp. - Là p.pháp trong đó gv nêu câu hỏi để hs trả lời, qua đó hs lĩnh hội được nội dung bài học. + Vấn đáp tái hiện: Yêu cầu hs nhớ lại kiến thức đã biết hoặc tái hiện nội dung miêu tả, nội Thông tin tài liệu. Ngày đăng: 01/10/2020, 17:06. Lý luận phê bình văn học phương Tây là một bộ phận không thể tách rời của văn học cũng như không tách rời các trào lưu lý luận văn học của nhân loại, bởi quá trình hình thành, phát triển của nó gắn liền với quá trình 4. Các bạn giỏi môn văn nên tìm và học thuộc nhận định, đánh giá của những nhà nghiên cứu, phê bình văn học hoặc các tác phẩm, tác giả vừa học trên lớp. * Phân môn Tiếng Việt Phong cách học với nghiên cứu, phê bình văn học. Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy khi đánh giá về tình hình phê bình văn học theo phong cách học ở nước ta đã có lí khi cho rằng: “Phê bình phong cách một tác phẩm hoặc một nhà văn chỉ bằng một vài nhận xét thì đã có nhiều Diễn trình của Lý luận phê bình văn học phương Tây…. Lý luận phê bình văn học phương Tây là một bộ phận không thể tách rời của văn. học cũng như không tách rời các trào lưu lý luận văn học của nhân loại, bởi quá trình. hình thành, phát triển của nó gắn liền với Tài liệu Các lý thuyết phê bình văn học nhằm cung cấp cho bạn đọc một tấm bản đồ của các lý thuyết văn học lớn trên thế giới từ đầu Thế Kỷ 20 đến nay, chủ yếu để giúp bạn đọc dễ theo dõi các bài viết về lý thuyết và phê bình văn học. Mời các bạn cùng Nửa đầu thế kỷ XX, đã xuất hiện nhiều công trình lý luận phê bình ứng dụng các học thuyết văn nghệ phương Tây vào việc nghiên cứu văn học Việt Nam. Trong đó, công trình mang màu sắc thi pháp học rõ rệt nhất là Chương Dân thi thoại (1936) của Phan Khôi. Nhìn chung Phê Bình Văn Học. Các bài viết trên Phê bình văn học thể hiện cách đặt vấn đề, quan điểm, nhận định, phương pháp tiếp cận, thị hiếu và văn phong của tác giả. Chúng tôi giới thiệu và tôn trọng sự khác biệt, nhưng không nhất thiết đồng tình với bài viết. 5U2RIL. Ngày đăng 29/08/2017, 1134 ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÊ BÌNH VĂN HỌC Dẫn nhập Phê bình Mới Anh Mỹ Phê bình Xã hội học Phê bình Phân tâm học Phê bình Nữ quyền luận Phê bình Hậu thực dân I PHÊ BÌNH MỚI ANH MỸ NEW CRITICISM IN ENGLAND &AMERICA Phê bình Mới Anh Mỹ gì? - Là trường phái phê bình có vai trò hàng đầu môi trường học thuật Anh Mỹ từ năm 20 đến năm 60 kỷ XX - Tập trung khám phá văn mối quan hệ hữu hình thức ý nghĩa, không coi trọng yếu tố nằm văn -Đặc biệt ý thể loại thơ ca -Tựa thành tựu tu từ học, thi pháp học, ngôn ngữ học - Xác lập phương pháp Đọc kỹ Close -Reading -Khái niệm Phê bình xuất từ giảng Joel Elias Spingarn The New Criticism A Lecture Delivered at Columbia University, 9 - -1910 tên sách New Criticism John Crowe Ransom năm 1941 Các thuật ngữ Key terms - Hàm hồ Ambiguity - Nghịch lý Paradox - Chủ đề Theme - Cốt truyện Plot - Tính trớ trêu Irony độ chênh điều nói điều ám chỉ, nghĩa đen nghĩa bóng - Độ căng Tension - Điểm nhìn Point of view - Dạng mẫu âm patterns of sound - Cấu trúc tự narrative structure - Văn dị ngữ heteroglossic - Phép chuyển nghĩa [trope] - Các biện pháp tu từ hình ảnh image, ẩn dụ metaphor, biểu tượng symbol, nhịp điệu rhythm … - Lầm lẫn ý định Intentional Fallacy đánh đồng thơ với ý đồ tác giả - Lầm lẫn cảm thụ Affective Fallacy nhầm lẫn ý nghĩa văn với tác động cảm xúc lên độc giả - Dị biệt diễn giải Heresy of Paraphrase giải thích thơ, việc tóm tắt chi tiết diễn xuôi thường làm sai lệch văn - Đọc kỹ Đọc gần, Đọc tỉ mỉ Close -Reading /Micro – lecture Đọc tập trung văn bản, phân tích, lý giải hình thức văn mối quan hệ với ý nghĩa Phương pháp Đi tìm mối quan hệ tư tưởng văn hình thức cấp Đọc kỹ Đọc kỹ có bốn cấp - Cấp 1 Đọc từ vựng ngữ pháp ý khía cạnh từ vựng, ngữ pháp cú pháp, số diễn văn hay tính khác đóng góp cho phong cách cá nhân nhà văn Miêu tả tượng - Cấp 2 Đọc ngữ nghĩa khảo sát ý nghĩa từ thông tin mà thơ mang đến Nhận thức ý nghĩa - Cấp 3 Đọc kết cấu Khảo sát mối quan hệ từ ý nghĩa văn Phân tích kiểm tra, sàng lọc, đánh giá - Cấp 4 Đọc văn hóa Khảo sát mối quan hệ yếu tố bất kỳ văn với yếu tố bên văn khác tác giả, viết khác loại nhà văn khác nhau; yếu tố lịch sử xã hội, văn hóa, triết học, tâm lý học Lý giải Các bước Đọc kỹ - Khởi đầu đọc vài lần văn nắm nghĩa chung Lập danh sách yếu tố khảo sát Với bút chì văn bản đánh dấu yếu tố cần ý - Xác định nghĩa từ, nắm bắt từ khác lạ, từ khóa Phân tích mối quan hệ từ câu lặp, tương đồng, đối nghịch Lý giải lựa chọn tác giả từ có tính cá nhân nào? sao? - Khảo sát cấu trúc văn triển khai ý tưởng, kết cấu - Khảo sát âm nhịp điệu yếu tố tác động đến ý nghĩa nào? Có thể dùng khái niệm thi pháp học tu từ học để phân tích Khảo sát hình thái diễn ngôn so sánh, ẩn dụ, hình ảnh, biểu tượng - Khảo sát câu loại câu, trật tự câu, nhịp điệu câu Chú ý khoảng lặng, độ ngưng, nghịch đảo, song song, lặp lại Phân tích yếu tố làm nên tính mơ hồ, đa nghĩa - Khảo sát văn cảnh Phân tích - Khảo sát tính chất trớ trêu văn - Khảo sát giọng điệu nhân vật, người tường thuật, tác giả quan hệ yếu tố kiến thức tự học Phân tích giọng điệu, phong cách Tìm lựa chọn tác giả kết hợp tất yếu tố nói để tạo văn độc đáo - Khảo sát biện pháp tu từ sử dụng ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, hình tượng, biểu tượng… - Khảo sát chủ đề Phát hệ thống chủ đề - Phát giới tính văn - Xác định cốt truyện - Xác lập đề tài để viết văn bản, chọn chìa khóa để mở cánh cửa vào văn câu hỏi thường gặp với người đọc Phê bình Mới -Tính hàm hồ ngôn ngữ? Kết cấu ngôn ngữ? Các tiềm liên tưởng ngôn ngữ văn chương? - Các thủ pháp văn chương đặc thù? Hàm ý thủ pháp này? - Phép điệp, phép so sánh, phép liệt kê, phép chơi chữ?phép chuyển nghĩa [trope]? Phép gián cách hay tạo cự ly? Các mệnh đề song song? Các nhịp điệu, vần? - Các nghịch lý về ý nghĩa từ ngữ? -Những mỉa mai? mâu thuẫn? - Hiệu ứng hình thức? - Các hình thức bất thường câu? - Những mù mờ confusion quy chiếu? - Những chuyển động văn bản? - Hệ thống hình tượng? Hệ thống ẩn dụ? Hệ thống biểu tượng? - Các thiết kế tự sự? Câu chuyện kể nào? - Mạch văn bản? Tuyến trần thuật? -Tác phẩm đâu? kết thúc nào? - Cách quan sát miêu tả ? - Quan hệ chủ thể đối tượng? - Hành trình ý thức? khách quan? chủ quan? - Hiệu ứng lạ hóa? Có phá vỡ “tầm đón đợi” không? - Các chủ đề phát ngôn nào? Chủ đề then chốt tác phẩm nằm đâu? Độ căng chủ đề? - Các môtip giới thiệu trực tiếp/ gián tiếp - Vai trò giải trung tâm nhân vật? - Các đối thoại có ý nghĩa gì? - Các loại ý nghĩa? Nghĩa thông thường/ nghĩa hiển ngôn/ nghĩa đặc thù/ nghĩa tiềm ẩn nghĩa riêng? -Ý nghĩa xã hội khác nhân vật? Giải mã suy nghĩ nhân vật? - Kỹ thuật xây dựng kịch? Diễn tiến kịch? Hậu trường đối thoại? Các ý định bị che giấu? -Văn có tập hợp nhiều dạng thức ngôn ngữ không? Văn dị ngữ -heteroglossic - Phong cách ngôn ngữ nhân vật riêng/ chung? - Sắc thái diễn ngôn? uy quyền? mềm mỏng? biến hóa? đơn nghĩa độc thoại - Có trích dẫn phong cách hóa quy chuẩn hóa diễn ngôn khác không? Ý nghĩa việc đối thoại hóa ? Những động thái đối thoại hóa? -Những từ ngữ hay hình ảnh đặc thù dùng để thể ý nghĩa phổ quát? -Ngôn ngữ ý nghĩa, tinh thần vật chất, nội dung hình thức, đặc thù phổ quát… tương hợp, dung hòa với nào? -Có hòa giải thành công điều trái ngược? “Hòa điệu xung khắc” phổ quát đơn nhất? Các ý nghĩa phổ quát nét đặc thù cụ thể? -Những hình tượng tương quan với vẻ ngoài? - Mối quan hệ người tự nhiên? - Tính chất chủ thể? - Tính chất bất ổn tri giác? - Tính nước đôi thơ? - Tính chất phân mảnh thời gian, không gian, ý nghĩa… - Ký ức trí tưởng tượng? - Các dạng ý nghĩa tôn giáo, văn hóa, trị… cầu -Tiếp cận sâu văn khả cao - Lập thống câu hỏi chi tiết - Giữ lại tính đa nghĩa phức tạp văn luận Là phương pháp thực hành, phê bình Mới Anh Mỹ chủ yếu tập trung vào mô tả, phân tích, lý giải nhận định giá trị thẩm mỹ hay ý nghĩa cách tân tác phẩm văn học Ảnh hưởng lâu dài, sâu đậm Phê Bình Mới giảng dạy hầu hết trường đại học Mỹ, từ Mỹ, lan rộng sang hầu hết quốc gia nói tiếng Anh khác phân tích thơ ca Rèn luyện kỹ phân tích sâu văn bản, phương pháp trợ thủ hữu hiệu cho phương pháp khác PHÊ BÌNH XÃ HỘI HỌC - SOCIOCRITICISM - Phê bình Xã hội học gì? Là trường phái phê bình manh nha vào kỷ 19, hình thành phát triển mạnh vào kỷ 20, phân nhánh dung hợp vào kỷ 21 Khi tiếp cận kiện văn học, tập trung khảo sát yếu tố xã hội có mặt văn Xác lập, miêu tả, lý giải tương quan xã hội tác phẩm văn học Đề cao lý trí, ý người xã hội xem trọng mối quan hệ nhân xã hội văn học Khái niệm “socio-critique” Claude Duchet khai sinh năm 1971, ông đề nghị cách đọc lịch sử -xã hội văn bản, “một thi học nghiên cứu tính xã hội, gắn liền với cách đọc góc độ hệ tư tưởng, ý đặc thù văn bản” C Duchet - Phê bình Xã hội học đại có ba nhánh 1 Xã hội học công việc sáng tạo Lucien Goldmann 2 Xã hội học trường văn học Pierre Bourdieu 3 Xã hội học tiếp nhận Hans Robert Jauss Các phương pháp Phê bình Xã hội học Các bước tiến hành phê bình Xã hội học truyền thống Chọn văn Xác định bối cảnh đời tác phẩm Tóm tắt nội dung tác phẩm Xác lập hệ thống nhân vật Xác định mâu thuẫn xã hội tính giai cấp nhân vật tác phẩm Xác định tính điển hình nhân vật Xác định tính điển hình hoàn cảnh Xác định xu hướng trị nhà văn Đi tìm giá trị thực giá trị nhân đạo tác phẩm Các bước tiến hành phê bình Xã hội học đại Chọn văn Xác lập cấu trúc ý nghĩa tác phẩm Xác lập cấu trúc xã hội tương ứng Cắt nghĩa mối quan hệ cấu trúc ý nghĩa với cấu trúc xã hội Khảo sát vận động cấu trúc Phát mối quan hệ giữa tư tưởng tác giả tư tưởng tác phẩm quán hay có độ chênh định Khảo sát yếu tố trị tác phẩm văn học văn học hậu thực dân Chú ý tính xã hội- lịch sử cách viết Khảo sát tác động xã hội cơ chế, sách với tác phẩm tác giả xã hội học văn học 10 Khảo sát tác động công chúng với tác phẩm tác giả mỹ học tiếp nhận 11 Khảo sát yếu tố giới tính tác phẩm văn học văn học nữ quyền 2 KẾT LUẬN PBXHH trường phái phê bình có lưu vực rộng giòng chảy dài so với trường phái PB khác Nếu phê bình xã hội học truyền thống nặng tínhquy phạm định luận phê bình xã hội học đại cởi mở hơn, làm lại lịch sử văn chương kiếm tìm mở rộng, thông thái nhạy cảm phương diện xã hội Mặt khác, nhờ tìm tòi thực tế văn mà tiếp cận với ký hiệu học văn học phân tâm học PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC PSYCHO-CRITICISM Phê bình phân tâm học gì? - Là xu hướng phê bình manh nha từ cuối kỷ XIX, với lý thuyết Phân tâm học Psychoanalysis Sigmund Freud, phát triển mạnh mẽ nửa đầu kỷ XX, phân nhánh& dung hợp nửa sau kỷ XX - Tiếp cận tác phẩm văn học nguyên tắc tâm lý học, cụ thể vô thức Với S Freud vô thức cá nhân, với Jung vô thức tập thể - Thuật ngữ phê bình Phân tâm học khai sinh Charles Mauron năm 1949 - Phê bình phân tâm học phương pháp diễn dịch - Đối tượng PBPTH tâm lý tác giả, tâm lý nhân vật tâm lý độc giả - Có hai xu hướng PBPTH cổ điển & PBPTH đại Sau S Freud, phê bình phân tâm học phát triển theo nhiều hướng Tập trung vào tác giả tiểu sử tác giả Marie Bonaparte Kết hợp hai khuynh hướng, nghiên cứu chủ đề Charles Mauron, Vô thức tác phẩm đời Racine, G Bachelard Tập trung vào văn Jean- Bellemin Noël Nghiên cứu văn hóa với tâm bệnh học tộc người G Devereux Kết hợp phân tâm học Thiền E Fromm Kết hợp phân tâm học folklore V Dundes Phên tâm học tập trung vào người đọc N Holland Phân tâm học cấu trúc - kí hiệu học Jacques Lacan Gợi ý phương pháp Có nhiều hướng tiếp cận Nghiên cứu nhà văn cá thể loại hình Tiến hành phân tâm tác giả Nghiên cứu trình sáng tác Nghiên cứu loại hình phép tắc tâm lý tác phẩm cấu trúc tâm lý nhân vật, khám phá ý nghĩa tiến hành phân tâm nhân vật tác phẩm, nhiều người ta xem nhân vật người thực, hình dung có “vô thức văn bản” thuộc tác phẩm Nghiên cứu tâm lý độc giả thị hiếu, xu hướng đọc, chia sẻ/ không chia sẻ… Các tiêu điểm cần phân tích -Vô thức -Bản tính dục -Cấu trúc nhân cách - Giấc mơ - Mặc cảm Oedip -Xung đột tâm lý -Những mâu thuẫn, bất thường diễn ngôn - Các chủ đề - Hiện tượng chia cắt - Những môtíp mát, chấn thương, lo âu, sợ hãi, ám ảnh, trầm uất, mộng du, kháng cự, tự vệ, bế tắc hòa giải … - Hiện tượng thiếu hụt/ bù trừ, ngưng đọng/ dịch chuyển, trật tự ranh giới, lẫn lộn giới bên giới bên ngoài, che giấu, thèm muốn, ngụy trang, thiếu ý thức thân, không nối kết với người khác… -Các từ ngữ thuộc tính dục biểu tính dục nhân vật - Cắt nghĩa tượng tâm lý nguồn gốc cá nhân/ nguồn gốc gia đình, xã hội… kiện để thực hành PBPTH -Thành thạo lý thuyết Freud - Hiểu biết thấu đáo lịch sử thời đại ngôn ngữ -Huy động cảm xúc cường độ cực mạnh -Có khả phân tích tự phân tích thường xuyên Kết luận Bị định kiến xã hội Phạm vi tác phẩm khảo sát hẹp Nghiên cứu phê bình công việc ý thức mâu thuẫn Kỹ phân tích, cần kết hợp với nhiều thao tác khác, khó Dễ bị suy diễn khiên cưỡng mơ hồ PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN FEMINISM CRITICISM Phê bình nữ quyền gì? Là trường phái phê bình văn học thoát thai từ phong trào trị xã hội đấu tranh cho quyền bình đẳng phụ nữ, phát triển mạnh mẽ vào kỷ XX, chủ trương xác lập mỹ học, lý luận văn học sáng tác văn học riêng cho giới nữ Những dung hợp • Phê bình Nữ quyền văn • Phê bình Nữ quyền phân tâm học • Phê bình Nữ quyền hậu cấu trúc luận • Phê bình Nữ quyền vật • Phê bình nữ quyền đồng tính • Phê bình nữ quyền hậu thuộc địa Gợi ý phương pháp tiếp cận nữ quyền - Chọn văn - Chú ý tác giả -Khảo sát nhân vật - Khảo sát điểm nhìn -Khảo sát hệ chủ đề -Phân tích diễn ngôn -Lý giải Các câu hỏi đọc nữ quyền? - Nên chọn văn nào? truyền miệng/ viết cũ/ mới, đàn bà/ đàn ông, tự sự/ trữ tình? -Tác phẩm thừa nhận/ bị quên lãng/ bị phê phán? -Các nhân vật mang tư tưởng nữ quyền? -Các nhân vật mang số phận nữ giới? - Diễn ngôn nữ quyền? - Tư tưởng nữ quyền? Kết luận Phê bình văn học Nữ quyền có lịch sử không dài, phát triển theo hướng phân nhánh dung hợp với trường phái khác ... Những dung hợp • Phê bình Nữ quyền văn • Phê bình Nữ quyền phân tâm học • Phê bình Nữ quyền hậu cấu trúc luận • Phê bình Nữ quyền vật • Phê bình nữ quyền đồng tính • Phê bình nữ quyền hậu thuộc... khác, nhờ tìm tòi thực tế văn mà tiếp cận với ký hiệu học văn học phân tâm học PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC PSYCHO-CRITICISM Phê bình phân tâm học gì? - Là xu hướng phê bình manh nha từ cuối kỷ... Xã hội học công việc sáng tạo Lucien Goldmann 2 Xã hội học trường văn học Pierre Bourdieu 3 Xã hội học tiếp nhận Hans Robert Jauss Các phương pháp Phê bình Xã hội học Các bước - Xem thêm -Xem thêm đề cương bài giảng các phương pháp phê bình văn học , đề cương bài giảng các phương pháp phê bình văn học , Một đánh giá tài liệu tóm tắt và tổng hợp các nghiên cứu học thuật hiện có về một chủ đề cụ thể. Bài phê bình văn học là một dạng bài viết học thuật thường được sử dụng trong các ngành khoa học, khoa học xã hội và nhân văn. Tuy nhiên, không giống như các tài liệu nghiên cứu, thiết lập các lập luận mới và đóng góp ban đầu, các bài phê bình tài liệu tổ chức và trình bày các nghiên cứu hiện có. Là một sinh viên hoặc học giả, bạn có thể viết một bài phê bình tài liệu dưới dạng một bài báo độc lập hoặc như một phần của một dự án nghiên cứu lớn hơn. Để hiểu các bài phê bình văn học, tốt nhất trước tiên bạn nên hiểu chúng không phải là gì . Đầu tiên, các bài phê bình văn học không phải là thư mục. Thư mục là danh sách các nguồn được tham khảo khi nghiên cứu một chủ đề cụ thể. Các bài phê bình văn học không chỉ liệt kê các nguồn mà bạn đã tham khảo chúng tóm tắt và đánh giá một cách nghiêm túc các nguồn đó. Thứ hai, các bài phê bình văn học không được chủ quan. Không giống như một số "bài phê bình" nổi tiếng khác ví dụ như bài phê bình nhà hát hoặc sách, bài phê bình văn học tránh các tuyên bố quan điểm. Thay vào đó, họ tổng kết và đánh giá một cách có phê bình một bộ phận văn học bác học từ một góc độ tương đối khách quan. Viết một bài phê bình tài liệu là một quá trình nghiêm ngặt, đòi hỏi sự đánh giá kỹ lưỡng về chất lượng và kết quả của từng nguồn được thảo luận. Tại sao nên viết một bài phê bình văn học? Viết một bài phê bình văn học là một quá trình tốn nhiều thời gian, đòi hỏi nghiên cứu sâu rộng và phân tích phê bình . Vì vậy, tại sao bạn nên dành quá nhiều thời gian để xem xét và viết về nghiên cứu đã được xuất bản? Biện minh cho nghiên cứu của riêng bạn . Nếu bạn đang viết một bài phê bình tài liệu như một phần của một dự án nghiên cứu lớn hơn , thì bài phê bình tài liệu cho phép bạn chứng minh điều gì làm cho nghiên cứu của riêng bạn có giá trị. Bằng cách tóm tắt các nghiên cứu hiện có về câu hỏi nghiên cứu của bạn, một đánh giá tài liệu cho thấy những điểm đồng thuận và điểm không đồng ý, cũng như những khoảng trống và câu hỏi mở vẫn còn. Có lẽ, nghiên cứu ban đầu của bạn đã xuất hiện từ một trong những câu hỏi mở đó, do đó, bài đánh giá tài liệu đóng vai trò là điểm khởi đầu cho phần còn lại của bài báo của bạn. Chứng minh chuyên môn của bạn. Trước khi bạn có thể viết một bài phê bình văn học, bạn phải đắm mình trong một cơ quan nghiên cứu quan trọng. Vào thời điểm bạn viết bài đánh giá, bạn đã đọc nhiều về chủ đề của mình và có thể tổng hợp và trình bày thông tin một cách hợp lý. Sản phẩm cuối cùng này thiết lập bạn như một cơ quan đáng tin cậy về chủ đề của bạn. Tham gia cuộc trò chuyện . Tất cả các bài viết học thuật là một phần của một cuộc trò chuyện không bao giờ kết thúc một cuộc đối thoại liên tục giữa các học giả và nhà nghiên cứu trên khắp các lục địa, nhiều thế kỷ và các lĩnh vực chủ đề. Bằng cách tạo ra một bài phê bình tài liệu, bạn đang tương tác với tất cả các học giả trước đây, những người đã xem xét chủ đề của bạn và tiếp tục một chu trình chuyển lĩnh vực này về phía trước. Mẹo viết một bài phê bình văn học Mặc dù các hướng dẫn về phong cách cụ thể khác nhau giữa các bộ môn, nhưng tất cả các bài phê bình tài liệu đều được nghiên cứu và tổ chức tốt. Sử dụng các chiến lược sau đây làm hướng dẫn khi bạn bắt tay vào quá trình viết. Chọn một chủ đề với một phạm vi hạn chế. Thế giới nghiên cứu học thuật rất rộng lớn, và nếu bạn chọn một chủ đề quá rộng, quá trình nghiên cứu sẽ dường như không bao giờ kết thúc. Chọn một chủ đề có trọng tâm hẹp và cởi mở để điều chỉnh nó khi quá trình nghiên cứu bắt đầu. Nếu bạn thấy mình sắp xếp hàng nghìn kết quả mỗi khi tiến hành tìm kiếm cơ sở dữ liệu, bạn có thể cần phải tinh chỉnh thêm chủ đề của mình . Ghi chú có tổ chức. Các hệ thống tổ chức như lưới tài liệu rất cần thiết để theo dõi các kết quả đọc của bạn. Sử dụng chiến lược lưới, hoặc một hệ thống tương tự, để ghi lại thông tin chính và các phát hiện / lập luận chính cho mỗi nguồn. Khi bạn bắt đầu quá trình viết, bạn sẽ có thể tham khảo trở lại lưới tài liệu của mình mỗi khi bạn muốn thêm thông tin về một nguồn cụ thể. Chú ý đến các mẫu và xu hướng . Khi bạn đọc, hãy chú ý đến bất kỳ mẫu hoặc xu hướng nào xuất hiện trong số các nguồn của bạn. Bạn có thể phát hiện ra rằng có hai trường phái suy nghĩ rõ ràng hiện có liên quan đến câu hỏi nghiên cứu của bạn. Hoặc, bạn có thể phát hiện ra rằng những ý tưởng phổ biến về câu hỏi nghiên cứu của bạn đã thay đổi đáng kể vài lần trong một trăm năm qua. Cấu trúc của bài phê bình tài liệu của bạn sẽ dựa trên những mẫu bạn khám phá. Nếu không có xu hướng rõ ràng nào nổi bật, hãy chọn cơ cấu tổ chức phù hợp nhất với chủ đề của bạn, chẳng hạn như chủ đề, vấn đề hoặc phương pháp nghiên cứu. Viết một bài phê bình văn học cần có thời gian, sự kiên nhẫn và rất nhiều trí lực. Khi bạn nghiền ngẫm vô số bài báo học thuật, hãy xem xét tất cả các nhà nghiên cứu đi trước bạn và những người sẽ theo dõi. Bài đánh giá tài liệu của bạn không chỉ là một bài tập thông thường đó là một đóng góp cho tương lai lĩnh vực của bạn. Phê bình văn học với tư cách là một bộ môn của khoa học văn học xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XIX ở châu Âu đến nay đã trải qua nhiều chặng đường. Người ta có thể tùy theo mục tiêu nghiên cứu của mình mà trình bày diễn trình này theo những cách thức khác nhau. Đỗ Lai Thúy 5 Phê bình văn học với tư cách là một bộ môn của khoa học văn học xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XIX ở châu Âu đến nay đã trải qua nhiều chặng đường. Người ta có thể tùy theo mục tiêu nghiên cứu của mình mà trình bày diễn trình này theo những cách thức khác nhau. Trước đây, trong bài viết Hành trình tư tưởng văn học phương Tây[16], tôi đã trình bày sự vận động của nó theo sơ đồ con lắc một xu hướng hoặc một trường phái nào đó của phê bình văn học chuyển động hết mình về phía A thì ngoài những ưu điểm nó cũng bộc lộ những nhược điểm. Và để khắc phục những nhược điểm này, nó lại chuyển động hết mình về phía B, phía đối lập. Ở phía B, ngoài những ưu điểm, nó lại bộc lộ những nhược điểm khác. Và để khắc phục những nhược điểm mới này, nó lại lao mình về phía A... Và cứ mỗi lần tìm cách khắc phục nhược điểm như thế, phê bình văn học lại tiến lên phía trước, không phải theo đường thẳng mà theo hình chữ chi. Ở công trình này, tôi trình bày theo một sơ đồ khác để, một phần, phù hợp với thực tiễn của tư tưởng phê bình văn học châu Âu từ thế kỷ XIX đến nay, phần khác, nhằm trả lời cho câu hỏi khẩn thiết của phê bình văn học Việt Nam trong thế kỷ qua, đặc biệt là của hiện trạng của phê bình hiện nay đó là việc đi tìm một phương pháp phê bình văn học tốt nhất, như là một thứ “động cơ vĩnh cửu”. Ở đây, xin mở ngoặc, tôi lấy thực tiễn của phê bình văn học châu Âu làm khung đối sánh không phải vì theo Âu tâm luận, mà vì phê bình văn học châu Âu phát triển đầy đủ và điển hình nhất và, do đó, có tính thế giới nhất. Hơn nữa, sự đi trước của châu Âu cho ta một khoảng cách để xem cho “biết người biết ta”. Bởi, tôi nghĩ, dù các văn hóa tộc người và các khu vực địa - văn hóa có khác nhau đến đâu đi nữa thì cũng vẫn vận động theo một quy luật cơ bản thống nhất, quy luật của cái đẹp. Tư tưởng phê bình văn học được thể hiện ở các lý thuyết và phương pháp phê bình, cụ thể hơn ở các cách tiếp cận tác phẩm. Phê bình văn học, theo tôi, cho đến nay đã trải qua ba hướng tiếp cận tác phẩm 1 đến với tác phẩm từ tác giả, 2 từ chính tác phẩm và, cuối cùng, 3 từ độc giả. Quả thật, thực tiễn phê bình văn học thế giới đã trả qua những bước đường này theo trình tự nhận thức tác giả –> tác phẩm –> độc giả. Hơn nữa, sơ đồ này rất phù hợp với lý thuyết thông tin trong việc triển khai cái tam giác trên thành tuyến tính người phát –> thông điệp –> người nhận tác giả tác phẩm độc giả Con đường tiếp cận tác phẩm từ tác giả hiện nay chúng ta thấy nó hết sức tự nhiên, như cha nào con ấy, rau nào sâu ấy, nhưng thực ra để trở thành một đường đi không dễ dàng chút nào. Ở châu Âu, từ thời Hy Lạp cổ đại cổ điển đến trước Thời đại Mới, trước khi phương pháp tiểu sử học ra đời, là sự thống trị của triết học, mỹ học và tư tưởng văn học của Aristote 322 - 184 Ông này cho rằng nghệ thuật là sự mô phỏng, trước hết mô phỏng tự nhiên, sau đó mô phỏng các tác phẩm mẫu mực. Ví như, có thể chọn những vở bi kịch thể loại cao quý và tiêu biểu cho văn học cổ và trung đại hay nhất, tức có tác dụng thanh lọc catharsis cảm xúc của công chúng nhất, rút ra những quy tắc sáng tác, rồi căn cứ vào những quy tắc ấy mà làm ra những vở bi kịch hay khác. Như vậy, người nghệ sĩ không sáng tạo theo cảm hứng cá nhân, mà tuân thủ theo các quy tắc có sẵn. Có thể nói, anh ta không sáng tạo ra vật thể, dù là vật thể tinh thần, mà vật thể tự xuất hiện qua các thao tác của anh ta. Thế là Thi pháp học quy phạm của Aristote đã vô hình trung biến nghệ thuật thành thủ công, người nghệ sĩ thành anh thợ thủ công. Thời đại Mới bắt đầu với sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân. Mỹ học Lãng mạn đề cao vai trò của tác giả như là chủ thể sáng tạo. Và quan hệ tác giả - tác phẩm là quan hệ nhân quả. Phương pháp tiểu sử học ra đời với nhà thơ, nhà phê bình văn học người Pháp Sainte-Beuve[17]. Một sự kết hợp độc đáo nguyên tắc tính chủ quan và tính lịch sử của quá trình văn hóa kết gắn với học thuyết khai sáng về “bản chất tâm lý không thay đổi của con người”. Cá nhân con người cụ thể là kẻ sáng tạo ra văn chương. Tác phẩm văn chương là con đẻ của tác giả, nên theo quy luật “giỏ nhà ai quai nhà ấy” thì nó phải in đậm dấu ấn của người làm ra nó như khí chất, tính tình, thiên hướng, giáo dục... Bởi vậy, đến tác phẩm từ tác giả là đến với cái chưa biết từ cái đã biết theo con đường loại suy. Tuy nhiên, con người không phải là nhất sinh bất biến, mà còn là sản phẩm của những môi trường văn hóa lịch sử nhất định. Vì thế mà có thể mở rộng việc nghiên cứu tác giả sang cái hoàn cảnh đã sản sinh ra tác giả. Trường phái văn hóa - lịch sử của [18] đưa ra ba nguyên lý cần phải áp dụng vào nghiên cứu con người nhà văn là chủng tộc, địa điểm và thời điểm. Nếu trong cái hoàn cảnh sản sinh ra tác giả ấy, người ta đặc biệt chú ý đến những nhân tố kinh tế xã hội, coi kinh tế là nguyên nhân của mọi nguyên nhân và động lực của sự phát triển xã hội thì đó là phương pháp xã hội học, trong đó có một hình thức triệt để hơn cả là phương pháp xã hội học mác xít. Phương pháp Xã hội học từ khi ra đời đến nay không ngừng làm phong phú bản thân mình bằng việc thu nhận những thành tựu của các ngành khoa học khác như cấu trúc luận, ký hiệu học. Đặc biệt là xã hội học văn học độc đáo ở chỗ đặt vấn đề nghiên cứu xã hội trước tác phẩm, xã hội trong tác phẩm và xã hội sau tác phẩm tức lý thuyết tiếp nhận. Phương pháp tiểu sử học, trường phái văn hóa lịch sử và các phương pháp xã hội học đều nghiên cứu tác giả với tư cách là con người xã hội. Nhưng tác phẩm văn học không chỉ có phần có chủ ý, tức ý đồ tác giả, như là sản phẩm của con người hữu thức, mà còn có cả phần không chủ ý, phần chìm của tảng băng trôi, sản phẩm của con người vô thức. Bởi thế, khi nghiên cứu tác giả, nếu Sainte - Beuve xuất phát từ tuổi trưởng thành, thì các nhà phê bình phân tâm học xuất phát từ tuổi ấu thơ. Phương pháp phân tâm học nghiên cứu những xung năng vô thức như là những ngọn nguồn sáng tạo ở tác giả. Nếu phân tâm học của S. Freud chủ yếu nghiên cứu cái vô thức ở con người cá nhân nhà văn thì phân tâm học của Jung, với lý thuyết về siêu mẫu, chú trọng đến vô thức tập thể, và đặc biệt là J. Lacan[19] với định đề nổi tiếng “vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ” lại thiên về cái vô thức ở văn bản tác phẩm. Từ đây xuất hiện phân tâm học văn bản. Nhà phê bình phân tâm học có thể không cần biết đến tác giả mà vẫn phân tích được tác phẩm. Nhờ có phân tâm học văn bản mà người ta có thể nghiên cứu được truyện cổ tích vốn không có tác giả, hoặc thơ Hồ Xuân Hương bất chấp tác giả này chưa có một tiểu sử xác định. Bởi vậy, phương pháp phân tâm học là một trong những cái cầu nối trên con đường tiếp cận tác phẩm từ tác giả sang tiếp cận tác phẩm từ tác phẩm. Trước khi từ giã những cách tiếp cận thứ nhất, “từ tác giả”, tôi muốn nói rằng, mặc dù có rất nhiều ưu việt, nhưng các phương pháp phê bình ngoại quan này nhiều khi rơi vào một nghịch lý đáng buồn là lẽ ra qua tác giả để tìm hiểu tác phẩm, thì, ngược lại, do quá chú mục vào tác giả, nên đã coi tác phẩm chỉ như một thứ tài liệu để hiểu con người nhà văn, trình độ văn hóa lịch sử và cái trạng thái kinh tế - xã hội thời nhà văn sống. Một cầu nối khác là phương pháp thi pháp học. Như đã biết, thi pháp học có từ thời Aristote, rất chú trọng đến tác phẩm, nhưng đó là thi pháp học quy phạm, cổ điển. Một thứ thi pháp học dạy người ta “chế tác” ra những tác phẩm đúng và hay. Vào đầu thế kỉ XX, sự phát triển của triết học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là ngữ học, đã có ảnh hưởng lớn đến phê bình văn học. Thi pháp học hiện đại hình thành, không chủ trương dạy nhà văn phải viết như thế nào, mà nghiên cứu tác phẩm bằng con đường mô tả khoa học và về sau quan niệm về mô tả ngả đều theo tinh thần hiện tượng học. Trên cơ sở này, chủ nghĩa hình thức Nga[20] ra đời như là sự chống lại một bên quan niệm nghệ thuật như là nhận thức của Potebnia trong lý luận và bên kia chủ nghĩa tượng trưng Nga trong sáng tác. Shklovski, chủ soái của trường phái này, và các đồng chí tài năng của ông coi trọng hình thức, vì hình thức chính là nghệ thuật, còn nghệ thuật thì như là thủ pháp. Chủ nghĩa hình thức Nga đã có nhiều đóng góp như việc xác định tính tự trị của tác phẩm văn học, coi đối tượng của phê bình văn học là tính văn học R. Jakobson, cái làm cho một tác phẩm trở thành tác phẩm văn học, đề ra khái niệm vật liệu đối lập với hình thức, miêu tả được các hệ thống cốt truyện Eikhenbaum, chủ đề Tomashevski, thủ pháp Shklovski và sự tiến triển của văn chương Tynianov... Như vậy, chủ nghĩa hình thức Nga không chỉ làm mới lại thi pháp học của Aristote, biến nó từ quy phạm, giáo điều thành miêu tả, khoa học, tức từ cổ điển thành hiện đại, mở ra một thời đại mới trong phê bình văn học với những cách tân hết sức cơ bản và độc đáo. Hầu hết những trường phái sau này ở châu Âu và Bắc Mỹ đều tìm thấy xuất phát điểm của mình ở chủ nghĩa hình thức Nga, như chủ nghĩa cấu trúc ở tư tưởng cấu trúc của Tynianov, phân tích truyện kể ở Tomachevski, Shklovski... Phải nói rằng, ngôn ngữ của tác phẩm văn học đã được chú trọng từ chủ nghĩa hình thức Nga phân biệt ngôn ngữ thơ ca và ngôn ngữ thường nhật, phân biệt phương diện tồn tại vật liệu và tồn tại thẩm mỹ của ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ chỉ thực sự trở thành “nhân vật chính” trong chủ nghĩa cấu trúc, ký hiệu học, phong cách học... là những khoa học lấy ngữ học cấu trúc của Ferdinand de Saussure[21]1857-1913 làm cơ sở. Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, nhà ngữ học Thụy Sĩ này đã thực hiện một loạt những lưỡng phân. Trước hết, ông phân biệt lời nói parole với ngôn ngữ langue và cho rằng chỉ ngôn ngữ mới là đối tượng của ngữ học. Ngôn ngữ là mã code của lời nói, bởi thế ngôn ngữ có tính xã hội, là chung của mọi người, còn lời nói mang tính cá nhân, của riêng mỗi người. Và để nghiên cứu ngôn ngữ, phải nghiên cứu đồng đại, vì chỉ có trên cơ sở một nhát cắt đồng đại, tĩnh quan và khép kín, mới tìm ra được cấu trúc của ngôn ngữ. Vậy ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các yếu tố quy định lẫn nhau và chịu sự quy định chung của cả hệ thống. Giá trị của mỗi yếu tố, vì vậy, không phải ở bản thân nó, mà ở quan hệ của nó với các yếu tố khác trong hệ thống mang lại. Và giá trị của cả hệ thống bao giờ cũng lớn hơn tổng giá trị của từng yếu tố. Ở hệ thống ngôn ngữ, mỗi yếu tố là một ký hiệu, toàn bộ ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, một bộ phận tiêu biểu nhất và quan trọng nhất của ký hiệu học. Mỗi ký hiệu ngôn ngữ gồm có hai mặt mặt âm thanh và chữ viết gọi là cái biểu đạt signifiant, mặt khái niệm, ý nghĩa gọi là cái được biểu đạt signifié. Quan hệ giữa CBĐ và CĐBĐ là quan hệ võ đoán, có tính quy ước do cộng đồng ngôn ngữ quy định, nhưng lại gắn bó với nhau như hai mặt của một tờ giấy. Phương pháp nghiên cứu ngữ học nói trên của F. de Saussure đã trở thành phương pháp luận chung cho nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, thậm chí cả khoa học tự nhiên. Lấy ngữ học làm “khoa học hoa tiêu”, Roman Jakobson đã vận dụng vào nghiên cứu văn học, đặc biệt là thi pháp thơ, Lévi - Strauss[22] trong dân tộc học, Jacques Lacan trong phân tâm học, Michel Foucault trong lịch sử tư tưởng và tri thức luận... Từ những nghiên cứu cụ thể của từng lĩnh vực, các nhà khoa học, đặc biệt là Lévi-Strauss, đã khái quát lên thành những vấn đề lý luận và xây dựng thành chủ nghĩa cấu trúc vừa là một triết học vừa là một phương pháp luận khoa học. Nhưng dù phát triển đến như thế nào đi nữa thì chủ nghĩa cấu trúc không bao giờ xa rời được cái định hướng ngữ học của nó. Vì thế, nó càng thúc đẩy mạnh hơn sự phân tích cấu trúc văn bản trong việc nghiên cứu văn học. Cũng phát huy tính ký hiệu của ngôn ngữ, ký hiệu học, khoa học về các ký hiệu của ngôn ngữ văn học, đặc biệt phát triển vào những thập niên giữa thế kỉ XX. Một công trình có tính chất khởi đầu cho cả cấu trúc luận và ký hiệu học là Hình thái học truyện cổ tích của Vladimir Propp[23] in năm 1928 ở Nga. Tác phẩm này, một mặt, gợi ý nhiều cho một nhà ký hiệu học khác người Pháp, Greimas, ở công trình Ngữ nghĩa học cấu trúc 1966, mặt khác, cổ vũ cho một nhà ký hiệu học lớn khác của nước Nga và của thế giới là Iuri Lotman[24], với những tác phẩm Cấu trúc văn bản nghệ thuật 1970, Mỹ học và ký hiệu học điện ảnh 1973... Ngoài ra, trường phái Paris còn gắn với những tên tuổi lớn khác là Roland Barthes với Những cơ sở của ký hiệu học, Hệ thống mốt 1967, Vương quốc của ký hiệu 1970, là Julia Kristéva với nhóm Tel Quel... Một nhân vật sáng giá khác của ký hiệu học cũng cần phải được nhắc đến là Umberto Eco với các công trình như Tác phẩm mở 1962, Cấu trúc vắng mặt 1968. Ký hiệu học, cấu trúc luận, thi pháp học tuy có những định hướng nghiên cứu khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, nhưng cũng có rất nhiều điểm tương đồng vì cùng lấy ngữ học cấu trúc làm cơ sở, cùng lấy việc nghiên cứu tác phẩm, đặc biệt là văn bản, làm trọng tâm. Văn bản có tính tự trị bởi sự tồn tại độc lập của ký hiệu, của các cấu trúc ngôn ngữ, của hình thức tác phẩm. Bởi thế, tác phẩm bao giờ cũng có một trung tâm, có nghĩa ổn định và khách quan vì sự khách quan của văn bản. Như vậy, phê bình văn học chỉ cần biết tới tác phẩm, mà không cần quan tâm tới tác giả và người đọc. Lối tiếp cận tác phẩm từ tác phẩm này một khi phát triển đến cực điểm thì chính độ viên mãn của nó lại làm bộc lộ những phiến diện mới. Và sự khắc phục những khiếm khuyết này một mặt là những điều chỉnh tự thân, mặt khác đáp ứng những nhu cầu mới của thời đại. Thời đại hậu công nghiệp, thời đại thông tin, thời hậu hiện đại. Điều này trước hết đã thúc đẩy chủ nghĩa cấu trúc phát triển thành hậu cấu trúc luận và giải cơ cấu với vẫn những nhân vật quen thuộc của chủ nghĩa cấu trúc như Roland Barthes, Michel Foucault, Jacques Derrida. Đồng thời sự hình thành các khoa học mới như minh giải học chú giải học hiện đại và mỹ học tiếp nhận với George Gadamer, Hans Robert Jauss và Wolfrang Iser đã làm xuất hiện nhân vật người đọc, như một đồng sáng tạo hoặc liên chủ thể. Và, từ đây xuất hiện một lối đi mới tiếp cận tác phẩm từ người đọc. Còn nữa Phần 1, 2, 3______________________Chú thích [16] Hành trình tư tưởng văn học phương Tây in trong cuốn Từ cái nhìn văn hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, 1999. [17] Sainte-Beuve 1804-1869, nhà thơ lãng mạn, nhà phê bình văn học Pháp. Tác phẩm chính Những chân dung văn học 1836-1839; Trò chuyện ngày thứ hai... [18] Taine H. 1828-1893, nhà triết học, nhà lịch sử và phê bình văn học Pháp. Thủ lĩnh của trường phái văn hóa - lịch sử. Tác phẩm chính Những nguồn gốc của nước Pháp đương đại 1875-1894, Luận về truyện ngụ ngôn của La Fontaine 1853, Lịch sử văn học Anh 1864, Triết học nghệ thuật 1865, Về trí tuệ 1870... [19] Lacan J. 1901-198.., nhà phân tâm học Pháp, mở ra một giai đoạn mới trong phân tâm học với chủ nghĩa cấu trúc. Ông khám phá ra “giai đoạn tấm gương” trong sự phát triển của trẻ em và Luật người cha và Luật biểu tượng. Định đề nổi tiếng của ông “vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ” đã mở ra ngành phân tâm học văn bản. [20] Về Chủ nghĩa hình thức Nga và các thành viên của nó xin xem Nghệ thuật như là thủ pháp Lý thuyết chủ nghĩa hình thức Nga, Đỗ Lai Thúy biên soạn và giới thiệu, Nxb Hội Nhà văn, 2001. [21] Ferdinand de Saussure 1857-1913, nhà ngữ học Thụy Sỉ, người sáng lập ra ngữ học cấu trúc và tạo ra cuộc cách mạng lần thứ nhất trong ngữ học. Saussure đã có ảnh hưởng đến toàn bộ khoa học xã hội và nhân văn thế kỷ XX. Tác phẩm duy nhất Giáo trình ngôn ngữ học đại cương do hai người học trò ghi lại từ bài giảng và xuất bản. [22] Lévi-Strauss 1908- , nhà nhân học Pháp, người sáng lập ra chủ nghĩa cấu trúc. Nhiều năm sống và nghiên cứu ở Brésil. Tác phẩm chính Nhiệt đới buồn 1955, Nhân học cấu trúc 1953, Tư duy man dã 1962, Huyền thoại học 1964-1971... Ông đã mang đến cho chủ nghĩa cấu trúc một kích thước nhân văn. [23] Propp V. 1895-1970, nhà ngữ văn học Nga, một trong những người đi đầu nghiên cứu cấu trúc văn bản nghiên cứu từ góc độ ký hiệu học. Đã dịch sang tiếng Việt Hình thái học truyện cổ tích 1928 và Những gốc rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ, Nxb Văn hóa Dân tộc và Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật xuất bản, 2003. [24] Lotman Iu. 1922-1993, nhà ký hiệu học văn học và văn hóa Nga, giáo sư Đại học Tổng hợp Tartu thuộc Estonia. Nghiên cứu văn học trong quan hệ với tổng thể văn hóa. Tác phẩm chính Những bài giảng về thi pháp học cấu trúc 1964, Cấu trúc văn bản nghệ thuật 1973, Ký hiệu học điện ảnh và những vấn đề mỹ học điện ảnh 1973...

các phương pháp phê bình văn học