🪅 Tiểu Luận Về Luật Hình Sự

Đáp Án Trắc Nghiệm Môn Luật Tố tụng hình sự Việt Nam - Bài 4. Làm thuê bài tập lớn, kiểm tra tự luận, tiểu luận môn luật tố tụng hình sự Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập giá rẻ - Tiểu luận môn Khởi tạo doanh nghiệp - sdt/ ZALO 093 189 2701 Khóa Luận Quyền Im Lặng 9đ. MỞ ĐẦU . 1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN IM LẶNG TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ. 1.1. Lịch sử hình thành, phát triển và vai trò của quyền im lặng. 8. 1.2. Khái niệm và đặc điểm quyền im lặng 14. 1.3. Nội dung quyền im lặng 17. 1.4. Bình luận tội chống người thi hành công vụ (Điều 12 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội (Điều 21 Bộ Luật Hình thứ năm, luật hình phần hệ thống pháp luật nước ta, phục vụ cho mục đích đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ giai cấp vì thế, việc hồn thiện, sửa đổi, rà sốt pháp luật hình nói chung có chế định hình phạt, hình phạt tử hình cần phải tiến hành đồng bộ, thống với đạo luật có liên quan, khơng dẫn tới tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, hay lỗ hổng … Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 ( phần các tội phạm) quyển 1, Nxb Tư pháp. ThS. Đỗ Đức Hồng Hà, Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3, tháng 2 - 2004. ThS. Tiểu luận luật hình sự 1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 2, NXB CAND, Hà Nội 2010 2. GS.TS.Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và Cấu thành tội phạm, NXB CAND, Hà Nội 2010 3. GS.TS.Nguyễn Ngọc Hòa, Mô hình Luật hình sự Việt Nam, NXB CAND, Hà Nội 2010 4. Đinh Văn Quế, Bình 21 Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự việt nam Tài liệu Báo cáo "Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự Việt Nam " docx 5 890 4 TIỂU LUẬN: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2010 ppt 37 988 3 Mác đặc biệt đánh giá cao ý tưởng của Êpicuơ muốn vươn tới sự tự do và độc lập về tinh thần, muốn thoát khỏi những xiềng xích ràng buộc của tôn giáo và mê tín. Trong luận án tiến sĩ Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrit và triết học tự nhiên - Bộ luật hình sự năm 2015 (bổ sung, sửa đổi năm 2017); - PGS.TS Trần Văn Độ, Những qui định về pháp nhân thương mại trong Bộ luật hình sự năm 2015, Tài liệu tuyên truyền Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ Tư pháp. xU1bf0Q. lượt xem 133 download Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ Nội dung Text Tiểu luận Luật tố tụng hình sự Việt Nam Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Tiểu luận Luật tố tụng hình sự Việt Nam 1 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam MỤC LỤC I. NỘI DUNG Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC. ...................................................... 3 1. Khái quát chung.................................................................................................. 3 a. Khái niệ m và cơ sở của nguyên tắc. ................................................................ 3 2. Nội dung của nguyên tắc. ................................................................................... 3 a. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập. .......................................................... 3 b. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật. ................................. 6 c. Mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của thẩm phán và hội thẩm. ........................................................................... 6 3. Ý nghĩa của nguyên tắc. ..................................................................................... 7 II. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC.................................................... 9 1. Về cách thức tổ chức hệ thống Tòa án. ............................................................... 9 2. Về cách thức quản lý Tòa án............................................................................... 9 3. Về ngân sách nhà nước và hoạt động xét xử ...................................................... 9 4. Về hệ thống pháp luật ...................................................................................... 10 5. Về Thẩm phán và Hội thẩ m nhân dân .............................................................. 10 III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC. ........................................................ 11 1. Một số biểu hiện của việc không độc lập và tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm. ......................................................................................................... 11 b. Nguyên nhân của thực trạng trên. ................................................................. 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 14 Phụ lục .................................................................................................................... 15 2 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam I. NỘI DUNG Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC. 1. Khái quát chung. a. Khái niệm và cơ sở của nguyên tắc. "Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" là một trong những nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, được hiểu là trong quá trình xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc bởi bất cứ yếu tố nào khác ngoài pháp luật, loại trừ mọi sự can thiệp từ bên ngoài vào hoạt động xét xử của tòa án. Cơ sở của nguyên tắc.  Cơ sở lý luận Việc quy định nguyên tắc này gắn liền với việc tổ chức bộ máy Nhà nước theo cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực. Tính độc lập của thẩm phán, hội thẩm là một trong những biểu hiện rõ nét của cơ chế phân chia quyền lực ở Việt Nam. Sự vi phạm nguyên tắc này sẽ dẫn đến sự lạm dụng quyền lực, sư thoái hóa của quyền lực và xã hội dĩ nhiên sẽ gánh chịu những hậu quả to lớn của tình trạng này.  Cơ sở thực tiễn Nguyên tắc này được ghi nhận rộng rãi trong pháp luật của nhiểu quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam. Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Nga quy định "Khi tiến hành xét xử các vụ án hình sự,thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ phục tùng pháp luật. thẩm phán và hội thẩm nhân dân giải quyết các vụ án hình sự trên cơ sở của pháp luật, phù hợp với ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện loại trừ mọi sự tác động bên ngoài lên họ"; Điều 88 Hiến pháp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên cũng quy định "trong khi thi hành chức quyền của mình, các thẩm phấn đều độc lập và chỉ phục tùng pháp luật"... Tuy các quy định trên có khác nhau về hình thức nhưng nội dung cơ bản là giống nhau, đều đặc biệt nhấn mạnh tính độc lập của thẩm phán trong xét xử.  Cơ sở pháp lý Nguyên tắc này có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài. Nó được nhắc đến lần đầu từ Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức tòa án và các ngạch tư pháp, tiếp đó là Điều 69 hiến pháp 1946, Điều 100 Hiến pháp 1959 và Điều 4 Luật tổ chức tòa án nhân dân 1960, Luật tổ chức tòa án nhân dân bản hiện hành là Điều 130 Hiến pháp năm 1992 và Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự, quy định rất rõ “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. 2. Nội dung của nguyên tắc. a. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.  Độc lập với các yếu tố khách quan 3 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam - Độc lập với các chủ thể khác của Tòa án giữa thẩm phán, hội thẩm và nội bộ ngành tòa án có mối quan hệ ràng buộc nhất định được thể hiện cụ thể ở Quan hệ giữa thẩm phán và tòa án cấp trên; quan hệ giữa thẩm phán và chánh án tòa án nhân dân tối cao; quan hệ giữa hội thẩm và chánh án tòa án nơi hội thẩm tham gia xét xử. Những mối quan hệ này không đơn thuần là quan hệ vè tổ chức hành chính càng không đơn thuần là quan hệ tố tụng. Trong quan hệ hành chính có mối quan hệ tố tụng và trong quan hệ tố tụng có mối quan hệ hành chính nhất định không có sự tách bạch rõ ràng. Ví dụ như Tiêu chí để có thể được tuyển chọn bổ nhiệm thẩm phán phải có phẩm chất đạo đức, năng lực, liêm khiết, do cơ quan nơi người được tuyển chọn đánh giá thong qua việc bỏ phiếu tín nhiệm. Chánh án là người đứng đầu cơ quan vừa sử dụng cán bộ nhưng đồng thời cũng là người quản lí cán bộ trong đơn vị mình, ngoài việc bỏ phiếu tín nhiệm như các cán bộ công chức khác, chánh án còn có tiếng nói quan trọng trong việc lựa chọn, định hướng công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ. Sau khi có phiếu tín nhiệm, người dược lựa chọn phải qua hội đồng tuyển chọn thẩm phán mà chánh án cấp trên là thành viên cảu hội đồng, sau đó mới đề nghị chánh án tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm. Có thể nói thẩm phán và hội thẩm là người chịu sự quản lí của chánh án và tòa án cấp trên. Thông qua công tác tổ chức xét xử như họp bàn trước khi xét xử, phân công thẩm phán, hội thẩm xét xử vụ án, chánh án có tác động đến hoạt động xét xử của thẩm phán và hội thẩm. Ngoài ra, việc có quy định “tòa án cấp trên” có thể hủy án “tòa án cấp dưới” cũng ảnh hưởng đến tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm. Chính vì vậy thẩm phán và hội thẩm phải có chính kiến, quan điểm của mình trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, mức hình phạt và giải quyết các vấn đề khác dựa trên quy đinh của pháp luật, đảm bảo xét xử công bằng khách quan. - Độc lập với sự chỉ đạo của của cấp ủy Đảng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh dạo của Đảng cộng sản. Nhà nước công khai nguyên tắc Đảng lãnh đạo tại Điều 4 Hiến pháp 1992 và được quy định cụ thể trong các nghị quyết của Đảng như nghị quyết 08/ NQ-TW,..Ngoài ra giữa tổ chức Đảng và Thẩm phán còn có mối quan hệ khác ngoài mối quan hệ giữa Đảng viên và tổ chức Đảng qua thủ tục thẩm phán. Theo quy định hiện hành thì cùng với việc lấy phiếu tín nhiệm của cán bộ công chức trong cơ quan người được đề nghị còn phải lấy ý kiến của cấp ủy Đảng. Chính vì những lý do này mà yêu cầu được đặt ra là Thẩm phán và Hội thẩm phải nhận thức đúng đắn sự lãnh dạo của Đảng đối với hoạt động tư pháp để đảm bảo sự độc lập trong xét xử. 4 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam - Độc lập với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Hồ sơ vụ án hình sự là tài liệu đầu tiên để Thẩm phán và Hội thẩm tiến hành xem xét, đánh giá việc có hành vi phạm tội hay không, phạm tội gì và được quy định trong hình phạt nào. Việc xét xử của Tòa án dựa trên những thong tin cần thiết, đáng tin cậy đó là chứng cứ vụ án. Bản án, quyết định của Tòa án dựa trên cơ sở phân tích đánh giá thông tin đã được cơ quan điều tra thu thập. Chính vì vậy, các thông tin ban đầu nhất là kết luận điều tra và cáo trạng truy tố có ảnh hưởng nhất định đến nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, Độc lập với tài liệu trong hồ sơ vụ án là việc Thẩm phán và hội thẩm trên cơ sở đánh giá tính chính xác của các thông tin, kiểm tra lại tính xác thực, đúng đắn của quyết định truy tố, từ đó đưa ra quan điểm chứng minh tội phạm của Hội đồng xét xử, các tình tiết thu thập được phải phù hợp với hiện thực khách quan. - Độc lập với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với dư luận và với cơ quan báo chí Phán quyết của Tòa án bao giờ cũng làm xuất hiện những nhóm mâu thuẫn về lợi ích, đó là những mâu thuẫn về lợi ích giữa bị cáo và người bị hại, giữa nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự, giữa nhà nước và người phạm tội. Ai cũng có nhu cầu kết quả xét xử đưa lại lợi ích tối ưu cho họ. Sau phán quyết của Tòa án sẽ có rất nhiều bình luận từ quần chúng nhân dân, từ cơ quan báo chí rằng tòa xét xử như vậy đúng hay không, có công bằng hay không, nặng hay nhẹ. Đặc biệt là các vụ án bị cấp trên xử hủy, những vụ án xét xử lưu động và các vụ án lớn được dư luận quan tâm. Những vấn đề đó đều tác động mạnh mẽ đến tâm lý của Thẩm phán và Hội thẩm khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Vì vậy, mới đặt ra yêu cầu Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với báo chí, với dư luận nghĩa là việc xét xử chỉ dựa trên những chứng cứ , những quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào yêu cầu khách của những người nói trên.  Độc lập với các yếu tố chủ quan giữa các thành viên trong hội đồng xét xử Cơ sở của việc độc lập xét xử giữa thẩm phán và hội thẩm được ghi nhận thành một trong những nguyên tắc của tố tụng đó là khoản 1 Điều 22 BLTTHS. Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một. Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án. Quy định này đã loại trừ việc thẩm phán lạm quyền, tác động đến hoạt động xét xử của Hội thẩm. Đồng thời, điều này cũng ngăn cấm thái độ ỷ lại vào Thẩm phán của Hội 5 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam thẩm mà cũng buộc Hội thẩm phải tích cực chủ động và có trách nhiệm trong hoạt động chứng minh tội phạm. b. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập không có nghĩa là xét xử tùy tiện mà việc xét xử phải tuân theo quy định của pháp luật và điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau  Tuân theo pháp luật hình sự bao gồm cả luật thực định và khoa học về luật hình sự. Vì muốn áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự buộc Thẩm phán và Hội thẩm phải có kiến thức về việc định tội danh và quyết định hình phạt,…  Tuân theo pháp luật tố tụng hình sự Có thể chia hoạt động xét xử của thẩm phán và Hội thẩm thành 2 giai đoạn, thứ nhất là từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước ngày mở phiên tòa và thứ hai là tại phiên tòa  Ở giai đoạn thứ nhất là giai đoạn mà Thẩm phán và Hội thẩm nghiên cứu hồ sơ để xem xét các tài liệu có trong vụ án, từ đó xây dựng kế hoạch xét hỏi và những tình huống xảy ra tại phiên tòa để có kế hoạch ứng phó thích hợp và những công việc cần thiết khác cho phiên tòa.  Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cần nắm chắc các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự từ thủ tục bắt đầu phiên tòa cho đến kết thúc phiên tòa, trong đó phần xét hỏi, tranh luận và nghị án là quan trọng nhất.  Tuân theo các văn bản pháp luật khác có liên quan như Pháp luật dân sự và các văn bản luật chuyên ngành khác,.. c. Mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của thẩm phán và hội thẩm.  Độc lập là biểu hiện của tuân theo pháp luật. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc là một phần nội dung của nguyên tắc. Thẩm phán và hội thẩm độc lập với nhau và độc lập với các yếu tố khác. Nếu Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, không chụi bất kì sự tác động nào thì phán quyết của Hội đồng xét xử mới có tính khách quan, vô tư, quyết định của Hội đồng xét xử mới đảm bảo đúng pháp luật.→Độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm tuân theo pháp luật.  Tuân theo pháp luật là cơ sở để thể hiện tính độc lập trong xét xử. Xét ở khía cạnh thuần túy của tính độc lập, để có thể tự mình đưa ra phán quyết, Thẩm phán và hội thẩm phải có kiến thức pháp luật và phải chấp hành quy định của pháp luật. Khi nắm chắc kiến thức pháp luật, Thẩm phán và Hội thẩm có điều kiện để thể hiện sự độc lập trong 6 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam phán quyết của mình. Xét ở khía cạnh khác thì tuân theo pháp luật là đã loại trừ các tác động khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm, bởi vậy họ mới có được sự độc lập.  Độc lập trong việc thống nhất với chỉ tuân theo pháp luật Độc lập nhưng phải dựa trên những quy định của pháp luật. Mọi kết luận của bản án, quyết định của Hội đồng xét xử phải phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án. Bản án phải xác định đúng người, đúng tội và đúng với các thiệt hại do hành vi phạm tội đã gây ra. Mỗi nhận định của bản án đều phải dựa trên những chứng cứ và tình tiết xác thực được thẩm tra tại phiên tòa có lập luận chặt chẽ, không kết luận dựa trân ý nghĩ chủ quan, cảm tính cá nhân của mỗi thành viên Hội đỗng xét xử. Yếu tố độc lập và chỉ tuân theo pháp luật không thể tách rời nhau.  Từ những phân tích trên có thể thấy rằng yếu tố độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau, độc lập trong sự thống nhất với việc tuân theo pháp luật. xem ví dụ ở phân phụ lục 3. Ý nghĩa của nguyên tắc. Nguyên tắc Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án. Có thể khái quát ý nghĩa của nguyên tắc thành 3 nhóm như sau  Ý nghĩa chính trị xã hội Nguyên tắc xác định vai trò, vị trí cơ quan Tòa án trong hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng. Chỉ có tòa án mới có quyền xét xử và khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Không một cá nhân, cơ quan nào được xen vào hoạt động xét xử của Tòa án cụ thể là Thẩm phán và Hội thẩm phải đảm bảo sự độc lập trên cơ sở chỉ tuân theo pháp luật không tuân theo bất cứ sự chỉ đạo nào khác ngoài pháp luật, trái pháp luật. “Quan chức” cũng như “thường dân” khi phạm tội đều bị đưa ra xét xử bởi Tòa án trên cơ sở những quy định của pháp luật mà không có đặc ân nào. Tư pháp độc lập là một trong những yếu tố để đảm bảo công bằng xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, pháp luật sẽ được chấp hành nghiêm chỉnh. “Độc lập xét cử có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo cho môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh vì khi đó các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ yên tâm rằng những tranh chấp đầu tư và hợp đồng kinh doanh của họ sẽ được bảo vệ 7 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam bởi một cơ chế tài phán xét xử độc lập, vô tư khách quan. Các quyền cơ bản của mỗi con người trong xã hội cũng sẽ được bảo đảm khi người cầm cân nảy mực thực sự độc lập xét xử những hành vi vi phạm các quyền đó. Độc lập xét xử cũng là một điều quan trọng để đảm bảo sự thành công cảu việc phòng chống tham nhũng bởi lẽ những kẻ tham nhũng sẽ không có cơ hội được bao che bởi sự can thiệp hoặc tác động vào quá trình xét xử của Tòa án. Hoạt động xét xử không phải là hoạt động của một cá nhân mà là hoạt động của tập thể, không chỉ là hoạt động của quan tòa mà còn có sự tham gia giám sát, tham gia xét xử của nhân dân thông qua những người đại diện cho họ, đó là Hội thẩm. Nguyên tắc gián tiếp thể hiện bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước do dân làm chủ, nhân dân tham gia giám sát các hoạt động của nhà nước, trong đó có hoạt động xét xử.  Ý nghĩa pháp lý Nguyên tắc là cơ sở pháp lý để Thẩm phán và Hội thẩm tiến hành hoạt động xét xử khách quan, đúng pháp luật. Đây cũng là cơ sở đảm bảo Hiến pháp và pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ có ý nghĩa và có tác dụng khi nguyên tắc “độc lập xét cử” được tuân thủ một cách triệt để. Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử vừa là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của Thẩm phán và Hội thẩm.  Ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật bảo đảm việc xét xử khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nguyên tắc này loại trừ các sự tác động không cần thiết, thậm chí tiêu cực của cơ quan, tổ chức khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm đảm bảo sự bình đẳng, độc lập giữa các thành viên của Hội đồng xét xử. Tóm lại, “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự. Nó đòi hỏi trong hoạt động xét xử, Thẩm phán và hội thẩm phải tự mình đưa ra các quyết định để giải quyết vụ án, không lệ thuộc và bất cứ yếu tố nào khác. Hoạt động xét xử phải đảm bảo đúng pháp luật vầ trình tự, thủ tục cũng như các quyết định đưa ra phải chính xác và có căn cứ pháp lý. Không một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được phép can thiệp và hoạt động xét xử của Tòa án. Độc lập xét xử được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của đa phần các nước trên thế giới. Điều đó một lần nữa khẳng định giá trị của nguyên tắc này trong hoạt động xét xử. 8 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam II. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC. 1. Về cách thức tổ chức hệ thống Tòa án. Hệ thống tổ chức Tòa án phải độc lập so với các cơ quan nhà nước khác. Nếu tổ chức hệ thống tòa án độc lập thì sẽ nó không bị chi phối bởi các cơ quan nhà nước khác, không gắn quá nhiều sự ràng buộc với chính quyền địa phương và như thế khi xét xử sẽ có tính độc lập cao. Để đảm bảo được điều kiện này các nước trên thế giới thường tổ chức hệ thống tòa án theo chức năng của tòa án chứ không theo tiêu chí cấp hành chính. Ở nước ta, hệ thống tòa án lại được tổ chức theo cấp hành chính tuy có những ưu điểm như bám sát nhiệm vụ chính trị xã hội hay có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước thì bộc lộ những điểm bất cập như thiếu khách quan khi đối tượng xét xử là các quan chức nhà nước…Để khắc phục hạn chế này theo Nghị quyết 49 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị đã khẳng định “Tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính”. Đây là một định hướng đúng, không những đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án có hiệu quả mà còn đảm bảo được nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật. 2. Về cách thức quản lý Tòa án. Quản lý Tòa án được xem xét dưới hai góc độ là quản lý hành chính và quản lý chuyên môn nghiệp vụ. Trong hai lĩnh vực đó thì vấn đề quản lí hành chính tong hệ thống Tòa án là yếu tố quan trọng để đảm bảo nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật. Nếu Tòa án tối cao quản lý cả chuyên môn nghiệp vụ lẫn tổ chức hành chính thì tính độc lập dễ bị vi phạm, bởi - Việc tổ chức, quản lý hành chính ảnh hưởng đến lợi ích thiết thân của Thẩm phán và cán bộ Tòa án nên Tòa án cấp trên có thể lợi dụng thế này để can thiệp vào công việc chuyên môn xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm. - Thẩm phán, Hội thẩm cũng có thể dễ dàng chấp nhận những yêu cầu không khách quan của cấp trên vì tâm lý nể sợ cấp trên…  Do đó, để đảm bảo cho nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật thì cần phải tách thẩm quyền quản lí hành chính cho một chủ thể khác. 3. Về ngân sách nhà nước và hoạt động xét xử 9 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Bất cứ tổ chức, cơ quan nào muốn hoạt động tốt cũng phải có nguồn kinh phí chưa nói là nhiều nhưng cũng phải đủ. Nguồn kinh phí đó để trang bị cơ sở vật chất cho hoạt động của Tòa án nói chung và của hoạt động xét xử nói riêng. Tuy nhiên chính vì ý nghĩa của nguồn kinh phí mà nhiều khi Tòa án sẽ bị phụ thuộc vào cơ quan phân bổ ngân sách nhà nước. Mặt khác, ngân sách nhà nước chưa đủ để phục vụ cho hoạt động xét xử phải dựa vào nguồn hỗ trợ của địa phương dẫn đến nguyên tắc này không được đảm bảo. 4. Về hệ thống pháp luật Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật chỉ có thể được bảo đảm khi có hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ và phù hợp với đời sống kinh tế - xã hội làm nền tảng cho các phán quyết của Tòa án. Đặc biệt là khi pháp luật của ta không thừa nhận án lệ thì đòi hỏi hệ thống các văn bản pháp luật và văn bản hướng dẫn đầy đủ và kịp thời. Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống pháp luật của ta vãn còn rất thiếu và yếu, không mang tính đồng bộ và thống nhất, gây khó khăn rất nhiều trong hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. 5. Về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Có thể nói đây là điều kiện hết sức quan trọng trong việc đảm bảo nguyên tắc này, trước hết, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải có trình độ chuyên môn, am hiểu kiến thức pháp luật thì mới có thể đánh giá vụ việc và biết lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp để giải quyết vụ án. Thứ hai, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải có tư cách đạo đức tốt, chí công vô tư thì xét xử mới khách quan. Muốn được như vậy thì phải có những cải cách như  Nhiệm kỳ của Thẩm phán Nhiệm kỳ của Thẩm phán là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự độc lập của cá nhân Thẩm phán. Nếu Thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời hoặc với nhiệm kì dài thì tính độc lập của họ sẽ được bảo đảm hơn vì họ không phải đối mặt với vấn đề bầu lại hoặc tái nhiệm thường xuyên và như vậy sẽ bị ảnh hưởng từ cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm.  Về tiền lương và chế độ đãi ngộ Vấn đề tiền lương và chế độ đãi ngộ được đảm bảo sẽ giúp cho Thẩm phán yên tâm công tác và không nảy sinh mục đích tư lợi dẫn đến thiếu công tâm trong quá trình xét xử.  Về cơ chế bảo đảm tính mạng, sức khỏe, danh dự Thẩm phán và thành viên gia đình họ Có thể nói ngề nghiệp của một Thẩm phán được xem là “nghề nguy hiểm”, do tính chất của hoạt động xét sử mà Thẩm phán có thể bị đe dọa về tính mạng, sức khỏe. 10 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Thẩm chí cả gia đình họ cũng bị nguy hiểm. Nếu vấn đề này không được quan tâm thì Thẩm phán sẽ không dám phán quyêt khách quan vì sợ người phạm tội trả thù hay đe dọa.  Về trình độ, năng lực Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân Đây cũng là vấn đề hết sức quan trọng. Bản thân họ phải là những người thực sự có năng lực, phải tự tin vào những phán quyết của mình thì mới có thể độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Không những vậy, bản thân Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải có lương tâm, đạo đức nghề nghiệp thì mới công tâm trong quá trình xét xử. III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động xét xử của Tòa án và được ghi nhận từ rất sớm trong Hiến pháp và pháp luật. Trên thực tế, nguyên tắc này đã được các chủ thể của hoạt động xét xử tuân thủ và ngày càng phát huy ý nghĩa tích cực của nguyên tắc, đảm bảo hoạt động xét xử của Tòa án được khách quan, đúng pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều biểu hiện của việc làm trái nguyên tắc, ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của Tòa án, xâm phạm đến quyền và lợi ích của công dân, gây dư luận xấu và bất bình trong quần chúng nhân dân. 1. Một số biểu hiện của việc không độc lập và tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm.  Thứ nhất, hoạt động xét xử chủ yếu là hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm chưa phát huy hết quyền năng được giao khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Trên thực tế, sự quá “chủ động” của Thẩm phán là cho Hội thẩm ở vào trình trạng lệ thuộc, thiếu chủ động trong quá trình chứng minh tội phạm và cũng chính vì thế khi đưa ra phán quyết, Hội thẩm cũng chỉ là người quyết định theo Thẩm phán. Nói cách khác, pháp luật ghi nhận Hội thẩm có quyền độc lập trong xét xử và chỉ tuân theo pháp luật nhưng bản thân một số vị Hội thẩm không phát huy được quyền này dẫn đến tình trạng Hội thẩm tham gia xét xử chỉ là hình thức, mọi phán quyết đều phụ thuộc vào ý chí Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.  Thứ hai, Thẩm phán và Hội thẩm quá lệ thuộc vào kết quả điều tra ban đầu, tức là lệ thuộc những thông tin, tài liệu có trong vụ án.  Thứ ba, có sự thống nhất chứng cứ và định hướng trước việc xét xử. Đó là việc họp án ba ngành, họp bản án trong nội bộ cơ quan, thỉnh thị án cấp trên trước khi xét xử. 11 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Việc họp ba ngành Công an, Viện kiểm sát trước khi xét xử không được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, mà chỉ là tiền lệ của ngành tòa án nhằm mục đích áp dụng thống nhất pháp luật. Tuy nhiên, có trường hợp lạm dụng việc “thỉnh thị” án và họp bản án ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm. Việc thỉnh thị án tạo nên tâm lý cấp dưới ỷ lại cấp trên, không có sự độc lập trong quyết định của mình, vi phạm nguyên tắc nói trên ngay t ừ chính chủ thể của hoạt động xét xử.  Thứ tư, có sự tác động của từ các nhân tố bên ngoài đến hoạt động xét xử của các Thẩm phán và Hội thẩm. Các nhân tố bên ngoài ở đây có thể là Chánh án, các cấp ủy Đảng vụ đất đai Đồ Sơn năm 2006 là một ví dụ rất điển hình về sự tác động của cấp ủy Đảng tới hoạt động xét xử, các cơ quan báo chí, dư luận Gần đây ta có thể thấy vụ án điển hình được dư luận rất quan tâm đến đó là vụ án “Nông trường Sông Hậu” của bà Trần Ngọc Sương, chúng ta chưa bàn tới việc có sai sót gì trong việc xét xử của Tòa án không mà chỉ bàn tới vấn đề khi bản án được tuyên cho bà Sương thì báo chí và dư luận đã lên tiếng rất nhiều mà cụ thể có tới 110 người dân xin đi tù thay cho bà Sương theo rồi báo chí đề cập rất nhiều, và sức mạnh của báo chí và dư luận đã buộc nhiều cơ quan có thẩm quyền phải lên tiếng nhằm xem xét lại vụ án này, các cá nhân tổ chức khác những người tham gia tố tụng, các cơ quan nhà nước khác,… b. Nguyên nhân của thực trạng trên.  Nguyên nhân từ yếu tố pháp luật Để Thẩm phán, Hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật, cần phải có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật. Có những hướng dẫn kịp thời nhưng cũng có những vấn đề chưa được hướng dẫn gây khó khăn cho hoạt động xét xử. Bên cạnh đó, một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự như các quy định về giới hạn xét xử, về nghị án, về chế độ tòa án xét xử tập thể…cũng gây ra những ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện nguyên tắc.  Nguyên nhân từ yếu tố chuyên môn nghiệp vụ Nói đến yếu tố chuyên môn nghiệp vụ chủ yếu nói đến trình độ chuyên môn. Trình đồ chuyên môn yếu dẫn đến tình trạng một số Thẩm phán mới còn bị động, lúng túng trong việc điều khiển phiên tòa, xử lý các tình huống phát sinh tại phiên tòa. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật mà nhận thức pháp luật lại không đúng thì việc “chỉ tuân theo pháp luật” ngược lại sẽ gây ra những hậu quả hết sức tai hại. 12 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam  Nguyên nhân từ yếu tố đạo đức nghề nghiệp đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến oan sai, thiếu công bằng trong xét xử. Ngày nay, khi cơ chế thị trường ngày càng tác động mạnh vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, nếu Thẩm phán, Hội thẩm không bình tĩnh trước sự cám dỗ của đồng tiền thì sẽ sinh đại họa cho nhân dân.  Nguyên nhân từ việc tổ chức và hoạt động của tòa án hiện nay tòa án nhân dân được tổ chức như một cơ quan hành chính nhà nước với cơ cấu tòa cấp trên tòa cấp dưới. Thẩm phán cũng là một cán bộ công chức bình thường, là nhân viên dưới quyền quản lý của chánh án. Như vậy, bên cạnh việc tuân thủ pháp luật trong khi làm nhiệm vụ thẩm phán xòn chịu sự chỉ đạo của chánh án, thẩm phán cũng bị áp dụng các biện pháp khen thưởng, kỉ luật. Điều này gây ảnh hưởng rất lớn tới sự độc lập của thẩm phán khi xét xử. Bên cạnh đó thẩm phán còn phải giữ mối quan hệ tốt với nhiều cơ quan khác, hay việc bàn bạc ba bên trước khi xét xử cũng ảnh hưởng lớn tới nội dung xét xử và kết quả bản án, Từ sự trình bày ở trên chúng ta cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau để nhằm hoàn thiện việc thực hiện tốt nguyên tắc này trong thực tiễn xét xử. Thứ nhât là cần phải ban hành kịp thời nhưng văn bản hưỡng đẫn chi tiêt và cụ thể hơn nữa, để việc xét xử thống nhất. Thứ hai cần phải đẩy mạnh công tác bồ dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho các thẩm phán và hội thẩm, đặc biêt là hội thâm nhân dân. Để nhưng người làm hội thẩm nhân dân trở thành nhưng người thực sự am hiểu pháp luật có trình độ chuyên cao. Thứ bà là đây mạnh tuyên truyền bồ dưỡng nâng cao đạo đực nghề nghiệp cho các thẩm phán cũng như hội thâm nhân đân, để họ thực sự trở thành nhưng người nắm giữ cán cân công lý đem sự công bằng nhân đân cũng như toàn xã hôi. Cuối cùng là cần phải đẩy mạnh công tác thanh tra, kiêm tra giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời nhưng biểu hiên tiêu cực trong hoạt động xet xử./. 13 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO * * * 1. Trường đại học Luật Hà nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2006; 2. Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001; 3. Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003; 4. Trường đại học Luật Hà Nội, Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2004; 5. Ts. Nguyễn Ngọc Chí, Một số yếu tố ảnh hư ởng tới nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/2009 6. Từ Thị Hải Dương, Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xet xử độc lập và chi tuân theo pháp luật, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà nội 2009. 14 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Phụ lục Những góc khuất ẩn sau quá trình truy tố, xét xử vụ chia chác đất công ở Đồ Sơn, Hải Phòng đang dần lộ sáng sau những phản ứng gay gắt của dư luận và công luận. Đó là sự can thiệp của lãnh đạo Thành uỷ, UBND thành phố Hải Phòng… Vụ chia chác đất công ở Đồ Sơn, Hải Phòng là một trong 10 vụ án tham nhũng lớn về đất đai năm 2005, được dư luận hết sức quan tâm theo dõi việc xử lý những cá nhân sai phạm. Thế nhưng, ngày 28/8 vừa qua, trong phiên xét xử sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tuyên một mức án mà dư luận gọi là "như đùa". Ba bị cáo nguyên là lãnh đạo thị xã Đồ Sơn chỉ bị mức án cảnh cáo. Ông Chu Minh Tu ấn - nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên - Môi trường Hải Phòng, người có vai trò rất lớn trong vụ án này lại được miễn truy tố. Những góc khuất ẩn sau quá trình truy tố, xét xử đang dần lộ sáng sau những phản ứng gay gắt của dư luận và công luận. Đó là sự can thiệp của lãnh đạo Thành uỷ, UBND thành phố Hải Phòng. Đây là vụ điển hình của việc vi phạm nguyên tắc tố tụng, không đảm bảo tính độc lập trong xét xử và phán quyết của toà án. Toà xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là vấn đề cốt lõi của hoạt động tư pháp và đã được qui định trong Hiến pháp nhằm đảm bảo công bằng, kỷ cương và sự nghiêm minh của pháp luật. Thế nhưng trên thực tế nguyên tắc này vẫn bị vi phạm. Theo một nghiên cứu, người thẩm phán khi xét xử thường chịu cảnh "trên đe, dưới búa", phải chịu tác động từ nhiều phía, từ bên ngoài xã hội, các đương sự, bị cáo, nhưng đáng ngại nhất là những tác động từ những cán bộ cấp trên. Cán bộ trong ngành toà án gọi đó là những "siêu toà". Ông Dương Văn Thành, Phó Chánh án Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, Chủ toạ phiên toà xét xử sơ thẩm vụ chia chác đất đai ở Đồ Sơn đã bày tỏ trên báo chí rằng "Cấp trên đã có đề nghị xin thì mình làm khác cũng khó. Xếp đã có ý kiến thì mình phải tuân theo". "Xếp" ở đây là lãnh đạo thành uỷ, UBND thành phố Hải Phòng. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trong buổi nói chuyện với cán bộ, đảng viên tỉnh Bình Phước trong chuyến thăm địa phương này mới đây đã khẳng định lại nguyên tắc "Đảng lãnh đạo, chỉ đạo bằng đường lối, chủ trương và cũng phải tuân theo pháp luật. Cấp uỷ Đảng không được can thiệp, chỉ đạo cụ thể toà án việc xét xử mức án". Vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc độc lập trong xét xử của toà án, trước hết phải ngăn chặn việc lợi dụng danh nghĩa tổ chức đảng, lãnh đạo cấp trên để can thiệp vào công việc chuyên môn của toà án vì động cơ cá nhân. Ai vi phạm phải bị xử lý nghiêm minh. 15 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Phiên toà sơ thẩm xét xử vụ tham nhũng đất đai ở Đồ Sơn cũng cho thấy rõ những yếu kém về trình độ nghiệp vụ và đặc biệt là bản lĩnh của đội ngũ cán bộ trong ngành tư pháp. Cán bộ tư pháp không đủ trình độ, bản lĩnh, dũng cảm nên không dám quyết những vấn đề mà đáng lẽ ra mình hoàn toàn có thể căn cứ vào luật mà quyết. Cho nên cứ phải tham khảo, xin ý kiến chỗ này chỗ kia dẫn đến việc bị chi phối, lợi dụng. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong buổi làm việc với Toà án nhân dân tối cao sau khi dư luận lên tiếng về việc xét xử không nghiêm minh vụ tham nhũng đất đai ở Đồ Sơn đã yêu cầu ngành toà án phải tập trung đào tạo cán bộ đáp ứng tiêu chuẩn vừa giỏi chuyên môn, vừa có bản lĩnh, vừa có tâm - có đức. Ai không đáp ứng được yêu cầu này phải được điều chuyển công tác khác. Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi người sống và làm theo pháp luật. Nếu không ngăn chặn được hành vi vi phạm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng và không xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp giỏi chuyên môn, có bản lĩnh thì những cái gọi là "siêu toà", can thiệp vào quá trình tố tụng như vụ Đồ Sơn, Hải Phòng chắc vẫn còn tiếp diễn./. Từ thi thi hai duong luan van thac si luat h ọc “ nguyên tăc tham phan và hôi thâm xet …. ha nooi2009. 16 320 tài liệu 1186 lượt tải Bạn đang băn khoăn trong việc tìm kiếm đề tài cho bài luận văn thạc sĩ luật hình sự? Bạn cần một vài mẫu bài luận để tham khảo trong quá trình hoàn thiện bài luận của mình? Bài viết này sẽ bật mí top 20 đề tài luận văn thạc sĩ luật hình sự và 5 mẫu bài luận hay nhất đến bạn. Xem ngay! 5 mẫu + 20 đề tài luận văn thạc sĩ luật hình sự đạt 10đ – FREE DOWNLOAD 1. Danh sách 20 đề tài luận văn thạc sĩ luật hình sự được tin dùng nhất 2022 Đề tài 1 Đề tài 2 Đề tài 3 Đề tài 4 Đề tài 5 Đề tài 6 Đề tài 7 Đề tài 8 Đề tài 9 Đề tài 10 Đề tài 11 Đề tài 12 Đề tài 13 Đề tài 14 Đề tài 15 Đề tài 16 Đề tài 17 Đề tài 18 Đề tài 19 Đề tài 20 2. [TẢI FREE] 5 mẫu luận văn thạc sĩ luật hình sự xuất sắc nhất Luận văn Thạc sĩ Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Luận văn Thạc sĩ Luật hình sự Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy Luận văn Thạc sĩ Luật hình sự Một số vấn đề cơ bản để giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình Luận văn Thạc sĩ Luật học Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam 1. Danh sách 20 đề tài luận văn thạc sĩ luật hình sự được tin dùng nhất 2022 Đề tài 1 Tổng hợp hình phạt trong các trường hợp đặc biệt theo Bộ Luật hình sự Việt Nam. Đề tài 2 Trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam. Đề tài 3 Các tội phạm về Tin học theo Luật hình sự Việt Nam Đề tài 4 Nghiên cứu về các tội vô ý phạm tội theo Bộ Luật hình sự 2015 Đề tài 5 Đánh giá về hậu quả pháp lý của hành vi cố ý phạm tội theo quy định của pháp luật. Đề tài 6 Chủ thể đặc biệt của tội phạm theo quy định của pháp luật. Đề tài 7 Đánh giá về tình thế cấp thiết theo quy định của Bộ Luật hình sự. Đề tài 8 Nghiên cứu tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ Luật hình sự. Đề tài 9 Kiểm soát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố – điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát. Đề tài 10 Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, internet hoặc các thiết bị số để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong Luật hình sự Việt Nam. Danh sách 20 đề tài luận văn thạc sĩ luật hình sự được tin dùng nhất 2022 Ngoài đề tài về luật hình sự, Luận Văn Việt cũng đã tổng hợp với hơn 20+ đề tài cùng 6 mẫu luận văn thạc sĩ luật kinh tế hoàn toàn miễn phí, giúp bạn có thêm cái nhìn mới mẻ cho bài luận văn! Đề tài 11 Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong Phần chung Bộ Luật hình sự năm 2016. Đề tài 12 Cơ sở pháp lý của đồng phạm theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 2015. Đề tài 13 Đánh giá về rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong Bộ Luật hình sự. Đề tài 14 So sánh tình thế cấp thiết và sự kiện bất ngờ theo quy định của Bộ Luật hình sự. Đề tài 15 Thực tế áp dụng các hình phạt trong Bộ luật hình sự 2015 của Việt Nam. Đề tài 16 Những hạn chế cần phải khắc phục đối với việc áp dụng các hình thức xử phạt trong Bộ Luật hình sự năm 2016. Đề tài 17 Biện pháp tư pháp dành cho người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, cộng đồng. Đề tài 18 Những hoạt động chính của các biện pháp tư pháp theo quy định của Bộ Luật hình sự. Đề tài 19 Phân tích các tình huống phạm tội trong trường hợp phòng vệ chính đáng. Đề tài 20 Đánh giá mức độ khả thi trong các quyết định hình phạt theo Bộ Luật hình sự. Trên đây chỉ là một vài ví dụ đề tài trong luật hình sự. Bạn có thể tham khảo rộng và bao quát toàn ngành luật hơn trong 130 đề tài luận văn ngành luật tiêu biểu Toàn quốc 2023! 2. [TẢI FREE] 5 mẫu luận văn thạc sĩ luật hình sự xuất sắc nhất Luận văn Thạc sĩ Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam Ưu điểm Làm rõ thực trạng về kháng nghị phúc thẩm trong các vụ án hình sự trong các quy định tại tỉnh Hà Giang. Đưa ra các định hướng để hoàn thiện các quy định trong các Luật tố tụng hình sự Việt Nam. Nhược điểm Chưa làm rõ nguyên nhân chủ quan hay khách quan dẫn đến các tồn tại trong kháng nghị phúc thẩm trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam Tải mẫu miễn phí tại đây Luận văn Thạc sĩ Địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Ưu điểm Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và pháp luật liên quan đến đối tượng bị buộc tội. Đề cập những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng luật tố tụng hình sự. Nhược điểm Giải pháp còn hạn chế, chưa thể giải quyết triệt để các vấn đề còn tồn tại. Địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Tải mẫu miễn phí tại đây Trước khi bắt đầu viết bài, bạn cần hoàn thành bản đề cương trước. Click ngay đề cương luận văn thạc sĩ luật, để được hướng dẫn chi tiết từ A đến Z cùng mẫu tham khảo ngay nhé! Luận văn Thạc sĩ Luật hình sự Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy Ưu điểm Thực trạng xét xử các tội danh liên quan đến tàng trữ, vận chuyển mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Các kiến nghị để hạn chế những tồn tại và giải pháp để nâng cao chất lượng xét xử. Nhược điểm Bài luận phân tích và đánh giá dựa trên số liệu từ năm 2011 đến 2015, nên cần tham khảo số liệu thực tế mới nhất để đưa ra giải pháp phù hợp và hiệu quả hơn. Luận văn Thạc sĩ Luật hình sự Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy Tải mẫu miễn phí tại đây Luận văn Thạc sĩ Luật hình sự Một số vấn đề cơ bản để giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình Ưu điểm Đánh giá thực trạng, hạn chế các quy phạm về hình phạt tử hình trong Bộ Luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn 1999- đến nay. Đưa ra luận cứ nhằm làm giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình trong chính sách pháp luật Việt Nam. Nhược điểm Chưa nêu được ưu điểm và nhược điểm khi giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ Luật hình sự Một số vấn đề cơ bản để giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình Tải mẫu miễn phí tại đây Luận văn Thạc sĩ Luật học Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam Ưu điểm Thực trạng thực hiện các quy định trong luật tố tụng về kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự. Làm sáng tỏ các tồn tại trong kháng nghị phúc thẩm và định hướng để hoàn thiện các quy định đó. Nhược điểm Bài luận dựa trên số liệu năm 2003, nên cần xem xét đưa ra giải pháp hiệu quả cho thực trạng hiện nay. Luận văn Thạc sĩ Luật học Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam Tải mẫu miễn phí tại đây Trong quá trình làm bài luận văn Luật sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn nữa như kiến thức có hạn, thời gian không đủ,… Vì vậy, Luận Văn Việt đem đến dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ luật, được nhiều người tin tưởng lựa chọn. Với kinh nghiệm trên 18 năm cùng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, chắc chắn sẽ không làm bạn thất vọng! Trên đây là toàn bộ 20 đề tài luận văn thạc sĩ luật hình sự và 5 mẫu bài luận xuất sắc cho bạn tham khảo. Hy vọng bạn đọc sẽ lựa chọn được đề tài phù hợp, cũng như có thêm nhiều thông tin hữu ích trong quá trình hoàn thành bài luận của mình. Hiện tại tôi đang đảm nhiệm vị trí Content Leader tại Luận Văn Việt. Tất cả các nội dung đăng tải trên website của Luận Văn Việt đều được tôi kiểm duyệt và lên kế hoạch nội dung. Tôi rất yêu thích việc viết lách ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Và đến nay thì tôi đã có hơn 5 năm kinh nghiệm viết bài. Hy vọng có thể mang đến cho bạn đọc thật nhiều thông tin bổ ích về tất cả các chuyên ngành, giúp bạn hoàn thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất! Post Views 897 1Đề số 20 Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt mở đầuTrong luật hình sự Việt Nam, cùng với tội phạm thì hình phạt cũng là mộttrong hai nội dung chính của luật hình sự. Mỗi tội phạm có tính chất nguy hiểm vàmức độ nguy hiểm khác nhau thì theo nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự,người phạm tội sẽ phải chịu hình phạt tương xứng với tội phạm mà bản thân ngườiphạm tội gây ra. Có nhiều loại hình phạt khác nhau, trong đó hình phạt nghiêmkhắc nhất là hình phạt tử hình. Bộ luật hình sự 2015 đã giảm số lượng hình phạt tửhình đối với nhiều tội danh so với các Bộ luật hình sự trước đó, điều này nhằm đápứng nhu cầu hội nhập chung, cũng như phù hợp với Chiến lược cải cách tư phápnước ta. Hiện tại, Bộ luật hình sự 2015 chỉ còn 15 điều quy định hình phạt tử đề hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam luôn được đem ra để cânnhắc giữa loại bỏ hình phạt tử hình và giữ lại hình phạt tử hình trong mỗi lần làmluật hình sự ở Việt Nam. Vậy hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam hiệnhành như thế nào?2Giải quyết vấn đềI. Một số vấn đề lí luận chung về hình phạt tử hình trong luật hình sự ViệtNam1. Khái quát chung về hình phạt và mục đích hình phạt trong luật hình sựViệt NamTheo điều 30 Bộ luật hình sự 2015, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêmkhắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định ápdụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạnchế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại điều 32 Bộ luật hình sự 2015 quy định nhiều loại hình phạt, trong đó cóhình phạt chính và hình phạt bổ đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thươngmại phạm tội mà còn giáo dục ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộcsống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôntrọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội Khái quát chung về hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt NamHình phạt tử hình được quy định tại Chương VI Hình phạt trong Bộ luật hìnhsự Việt Nam. Theo đó, điều 40 Bộ luật hình sự 2015 quy định “Tử hình là hìnhphạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc mộttrong các nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng conngười, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêmtrọng khác do Bộ luật hình sự quy định”.Do hình phạt tử hình cũng là một loại hình phạt trong hệ thống hình phạt quyđịnh trong Bộ luật hình sự, nên hình phạt tử hình trước tiên mang những đặc điểm3chung của hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước áp dụng đối với ngườiphạm tội; tử hình được quy định trong luật hình sự, được Tòa án áp dụng theo mộtmô hình tố tụng chặt chẽ đối với người bị kết án; tất cả những người chịu hình phạtdo luật hình sự quy định đều phải chịu án tích. Song, hình phạt tử hình cũng có mộtsố đặc điểm riêng như sau chỉ được áp dụng đối với trường hợp phạm tội đặc biệtnghiêm trọng thuộc một trong các nhóm tội quy định tại Bộ luật hình sự; tử hình làhình thức phòng ngừa tái phạm tội của người bị kết án cao nhất do tước đi mạngsống của người bị kết án, khiến cho họ không có cơ hội tái phạm; hình phạt tử hìnhcó tính chất không thay đổi, vì tước đi mạng sống của người khác nên nó tước đikhả năng khắc phục sai lầm trong hoạt động tư quy định tại điều 40, hình phạt tử hình là loại hình phạt nghiêm khắcnhất trong hệ thống các hình phạt trong Bộ luật hình sự. Tính nghiêm khắc nhất củahình phạt này ở chỗ nó tước đi sinh mạng, tính mạng- quyền sống của người bị kếtán trong trường hợp cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội không còn khả năngcảo tạo, giáo dục để hoàn lương. Vì vậy, chỉ có tử hình giúp loại bỏ họ vĩnh viễn rakhỏi đời sống xã hội, giúp đem lại cho cuộc sống bình yên, hạnh tích và bình luận hình phạt tử hình trong luật hình sự ViệtNam1. Phân tích hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt NamTại khoản 1 điều 40 Bộ luật hình sự 2015 quy định “Tử hình là hình phạt đặcbiệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong cácnhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, cáctội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác doBộ luật hình sự quy định”. Như đã thấy, hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắcnhất, chỉ áp dụng cho loại tội phạm đặc biệt nghiêm 9 Bộ luật hình sự 2015 phân loại tội phạm dựa trên tính chất nguy hiểmvà mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bao gồm bốn loại tội phạm4tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tộiphạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong đó, “tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạmcó tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất củakhung hình phạt do Bộ luật hình sự quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20năm tù, tù chung thân hoặc tử hình” khoản 4 điều 9. Hình phạt tử hình chỉ đượcáp dụng với những người cá nhân , pháp nhân thương mại pham tội bị kết ántrong những trường hợp tội gây nguy hại đặc biệt nghiêm trọng cho các quan hệ xãhội được luật hình sự bảo vệ. Cụ thể, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng phải thuộcmột trong các nhóm tội phạm được quy định tại Phần thứ hai Các Tội phạm của Bộluật hình sự, bao gồm các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm xâmphạm đến tính con người, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng và một sốloại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác mà theo đòi hỏi chung phải bị trừng phạtnghiêm khắc nhất. Nhà nước là người đứng ra đại diện cho nhân dân, thay mặtnhân dân loại bỏ, tước bỏ mạng sống của những người thuộc trường hợp tội phạmđặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, việc tước bỏ mạng sống của người thuộc trườnghợp này là vì lợi ích của số đông dân cư, vì lợi ích chung, và như vậy, tử hình cũngđã nhằm mục đích phòng ngừa chung, răn đe, cảnh báo để mọi người tôn trọng vàtuân thủ pháp 2 điều 40 Bộ luật hình sự quy định “Không áp dụng hình phạt tử hìnhđối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử”.-Đối với người chưa thành niên người chưa thành niên là người chưa đủ 18tuổi- điều 21 Bộ luật dân sự 2015 phạm tội1 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật đượcáp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhấtđược áp dụng không quá 18 năm tù… khoản 1 điều 101 Bộ luật hình sự 2015;52 Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật đượcáp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhấtđược áp dụng không quá 12 năm tù…. khoản 2 điều 101 Bộ luật hình sự 2015;Đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tộihoặc khi bị xét xử, căn cứ để chứng minh có thai là xác nhận của cơ quan y tế cóthẩm quyền, căn cứ để xác định phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi là Giấykhai sinh, sổ hộ khẩu,… thì đều không được áp dụng hình phạt tử với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử, có thể hiểu làkhi phạm tội người đó đủ 75 tuổi trở lên rồi hay khi phạm tội chưa đủ 75 tuổi trởlên, nhưng khi được đem ra xét xử thì người phạm tội đó từ đủ 75 tuổi trở lên rồithì cũng đều không được áp dụng hình phạt tử hình đối với những trường hợp với quy định tại khoản 3 điều 40 Bộ luật hình sự 2015 “Không thi hành ántử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp saua Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;b Người đủ 75 tuổi trở lên;c Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bịkết án đã chủ động nộp lại ít nhất ¾ tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp táctích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lí tội phạmhoặc lập công lớn”.Quy định tại khoản 3 có thể hiểu rằng bản án kết án những trường hợp ngườiphạm tội mà hình phạt quy định trong bản án là hình phạt tử hình, trong quá trìnhxét xử hay thời gian kháng nghị, kiến nghị, thời gian chờ thi hành án, những ngườiphạm tội đó chưa có một trong các dấu hiệu tại khoản 3 điều 40 và có thể áp dụnghình phạt tử hình, thế nhưng đến thời gian thi hành án, thì người phạm tội lại cómột trong các dấu hiệu quy định tại khoản 3 điều 40 thì hình phạt tử hình quy địnhtrong bản án không được thi hành, nghĩa là những trường hợp trên được miễn hìnhphạt tử hình, mà hình phạt tử hình chuyển thành hình phạt tù chung điểm nữa, người bị kết án tử hình có quyền xin ân giảm của Chủ tịchnước. Nếu như Chủ tịch nước đồng ý chấp nhận đơn xin ân giảm án tử hình thì6người bị kết án tử hình chuyển thành tù chung thân. Nếu Chủ tịch nước bác đơn xinân giảm án từ hình thì hình phạt án tử hình sẽ được thi Bình luận hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt NamThứ nhất, như đã nói, do tử hình là hình phạt đặc biệt, nghiêm khắc nhất trongcác hình phạt, nên trình tự, thủ tục thi hành hình phạt này cũng được quy định chặtchẽ, để đảm bảo mặc dù tước bỏ mạng sống của người khác, nhưng vẫn nhân đạonhất, tránh được tối đa việc vi phạm quyền con người, quyền công dân. Điều đóđược thể hiện ở một số điểm sauMột, bản án phạt tử hình chỉ được thi hành khi không có kháng nghị theo thủtục Giám đốc thẩm, không có đơn xin ân giảm của người bị thi hành án được CHủtịch nước chấp nhận ân giảm. Trong trường hợp người bị kết án tử hình không cóđơn xin ân giảm thì Ban giám thị trại giam phải lập biên bản và yêu cầu người bịkết án kí vào biên bản. Điều này đảm bảo tối thiểu nhất cơ hội cho người bị kết ántử hình được miễn hình phạt tử hình, được chuyển sang hình phạt tù chung trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Chánh ánTòa án sơ thẩm ra quyết định thi hành án, lập biên bản có rõ ràng thông tin, gửi đếncác cơ quan có thẩm quyền quyền khác, đồng thời Chánh án Tòa án đã xét xử sơthẩm ra quyền định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình…Ba, hình phạt tử hình được thi hành bằng hình thức tiêm thuốc hai, trong Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người năm 1948, tại điều 3và cụ thể hóa tại điều 6 ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trịnăm 1966 Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống; Quyền này phải đượcpháp luật bảo vệ; Không ai có thể bị tước đoạt mạng sống một cách tùy tiện. Ngoàira, việc áp dụng hình phạt tử hình không được trái với những quy định của ICCPRvà Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng CPPCG;… Như vậy, ViệtNam đã là thành viên của các Công ước này, mặc nhiên, phải tuân thủ theo. Các7công ước hướng tới việc bảo vệ tối đa quyền cơ bản nhất của công dân là quyềnsống. Tuy nhiên, điều 6 ICCPR cũng không thể được coi là cơ sở pháp lí để việndẫn trong việc bảo vệ ý kiến cho việc trì hoãn hình phạt tử hình đối với nhữngngười phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội đã bị kết án tử hình, chuẩn bị thihành án. Hay điều 6 ICCPR cũng không thể coi là căn cứ pháp lí để ngăn cản việcxóa bỏ hình phạt tử hình ở pháp luật hình sự mỗi quốc gia thành viên, trong đó cóViệt ba, trong mối quan hệ giữa hình phạt tử hình và quyền sống, Công ướcquốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 ICCPR cũng không bắt buộc cácquốc gia thành viên phải xóa bỏ hình phạt tử hình, thế nhưng mặc nhiên cũngkhông được lạm dụng hình phạt này một cách bừa bãi mà phải hạn chế sử dụng nó,chỉ được sử dụng đối với “những tội ác nghiêm trọng nhất” và đặt ra những giớihạn trong việc áp dụng hình phạt này. Pháp luật Việt Nam hình phạt tử hình vẫnđược duy trì trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên đã được giảm đi đáng kể, cụ thể Bộluật hình sự 1985 từ 44 điều xuống còn 29 điều trong bộ luật hình sự 1999, và còn22 điều trong Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009; đến nay, Bộ luậthình sự năm 2015 đã bỏ tiếp đi 7 điều, hiện chỉ còn 15 điều quy định hình phạt tửhình. Như vậy, việc giới hạn áp dụng hình phạt tử hình được Việt Nam tuân thủ rấttriệt để, cũng theo xu hướng nhân đạo chung của Quốc tế có thể những lần sửa đổiluật tiếp theo Việt Nam sẽ còn giảm tiếp những quy định tội phạm với hình phạt tư, x; height 280px;">thế nào, mặc dù trong các văn bản khác đã giải thích khi tiến hành thi hành biệnpháp tử hình sẽ áp dụng như thế nào. Đây là điểm thiếu sót, cần phải được sửa đổibổ tư, cần thống nhất, đồng bộ, nhất quán trong quá trình sửa đổi hình phạttử hình khi đặt nó trong mối quan hệ giữa hình phạt tử hình với các hình phạt kháchình phạt chính, hình phạt bổ sung, trong mối quan hệ giữa chế định hình phạt vàcác chế định của Bộ luật hình sự, giữa Bộ luật Hình sự với Bộ luật tố tụng hìnhsự…Thứ năm, luật hình sự là một phần trong hệ thống pháp luật nước ta, phục vụcho mục đích đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ giai cấp. Vì thế, việc hoànthiện, sửa đổi, rà soát pháp luật hình sự nói chung trong đó có chế định hình phạt,hình phạt tử hình cần phải tiến hành đồng bộ, thống nhất với các đạo luật có liênquan, nếu không sẽ dẫn tới tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, hay những lỗ hổngpháp luậnTóm lại, với tính chất là hình phạt nghiêm khắc nhất, song cũng là loại hìnhphạt truyền thống và có từ lâu đời, tử hình là hình phạt tước đi quyền sống của conngười, chỉ được áp dụng đối với những trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng,được quy định trong Bộ luật hình sự và được áp dụng với trình tự thủ tục chặt chẽdo Tòa án nhân dân quyết định. Trong thời kì ngày nay, tại Việt Nam, hình phạt tửhình vẫn có tác dụng là phương tiện mạnh mẽ để bảo vệ con người, công dân, bảovệ chế độ Xã hội Chủ nghĩa trước những hành vi nguy hiểm đặc biệt đáng kể củaxã hội. Bởi như một tính tất yêu khách quan, tội phạm đe dọa đến sự tồn tại của xãhội thì phải có những cách trừng trị thích đáng với người phạm tội. Như đãviết “Nếu như khái niệm tội phạm giả định phải có sự trừng phạt, thì tội phạm thựctế lại giả định phải có một mức độ trừng phạt nhất định. Tội phạm thực tế là có giớihạn, Vì vậy, cả sự trừng phạt cũng phải có giới hạn…” vậy nên hình phạt tử hìnhvẫn đóng vai trò quan trọng trong chế định hình phạt của Bộ luật hình sự Việt nào vẫn còn những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thì ngày đó hình phạt tửhình vẫn còn phát huy tính trừng phạt, răn đe, giáo dục của liệu tham khảo1. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung, Trường đại học Kiểm SátHà Nội- Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia- tr240, Giáo trình Lí luận và pháp luật về quyền con người, Nhà xuất bản Đại họcQuốc gia Hà Nội, Bộ luật Hình sự Luật thi hành án hình sự Nghị định số 82/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 của Chính phủ quy định về thihành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc />

tiểu luận về luật hình sự